
Suối Thanh Thuỷ, nơi bộ đội hành quân qua trước khi lên các điểm chốt.
Mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang), những ngày lễ Tết hai bên ngừng bắn. Đêm ba mươi, trời biên cương đen đặc, im lặng như vực sâu. Những người lính tụ tập tại hầm chỉ huy. Mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Thỉnh thoảng, vài câu trong bài “Xuân này con vắng nhà” bật lên. Da diết. Không ai nhìn vào nhau dù bóng tối che đi tất cả. Bất ngờ một loạt AK vang lên. Liền sau đó, một vạch đạn lửa dài như sợi dây níu từ mặt đất lên bầu trời. Giờ “G”! Thời khắc giao thừa đã đến. Tức thì, “một trận chiến” bắt đầu. Trận chiến của kìm nén nay bung ra. Kìm nén của bao ngày căng mình chịu đựng gian khổ, hy sinh. Kìm nén vì nỗi nhớ nhà, nhớ người thân. Kìm nén kéo căng cò súng. Tiếng nổ triền miên từ trận địa này sang trận địa khác. Tiếng nổ nút chặt từng căn hầm, từng hang đá. Bầu trời vùng đất hai bên biên giới bùng sáng vì những đường đạn lửa đan kín còn dày hơn mắt lưới. Tất cả các đường đạn đều xổ lên trời.
Khi tiếng súng tạm lắng, tôi đi về hầm mình. Qua hầm nào cũng thấy, những người lính duỗi dài nơi góc hầm, tựa vào công sự trầm tư. Có người khóc như trẻ con vì nhớ gia đình.
Sang Tết thứ hai. Lệnh khá nghiêm, không được gây bất kỳ tiếng nổ nào. Nhưng thỉnh thoảng vẫn có một vài tiếng nổ thất thần bật lên. Tết ấy, chúng tôi làm nhiệm vụ tại tổ phục kích chống địch luồn sâu tại khe núi hẹp. Tôi được thực tế thế nào là im lặng như vực sâu. Cơ thể như bị rơi tự do không có cách gì đỡ được. Chống chếnh như say. Có lẽ vì vậy mà thêm nhớ nhà da diết, nhưng nước mắt người lính làm chủ được, không để trào ra. Ăn Tết vẫn như mọi ngày, chủ đạo là thịt rim đóng túi sẵn (bảo quản ba tháng), thịt hộp …- những thứ bây giờ gọi là đồ ăn sẵn, có thêm bánh chưng hậu cần chuyển lên. Ở nơi tổ phục có thể nấu ăn, nên được cấp một bữa tất niên thịt lợn tươi. Chỉ thèm rau xanh. Có anh người dân tộc Thái ở hầm khác ôm bó “rau” đi qua. Hỏi rau gì? Rau cải rừng. Chắc anh ấy người dân tộc nên biết các loại rau rừng. Chúng tôi xin một nửa. Ăn ngon. Hôm sau anh ấy xuống hỏi, “Không đứa nào bị gì à? Tôi thấy ở rừng thì hái mang về nhìn cho đỡ thèm chứ biết là cây gì đâu, không dám ăn”.
Một chiến sĩ xuống “cứ”, mang lên cành hoa mận. Hoa mận trắng muốt lần đầu tôi thấy. Mải mê ngắm, mải mê vẽ lại. Bỗng bị xô ngã. Ba thằng lính lồm cồm bò dậy. Thì ra, một đàn chim rừng bay xẹt qua, lính ta mải suy tư nhầm là tiếng rít của đạn pháo vội nằm tránh. Tết bình yên nhưng trong tâm thức của người lính vẫn giữ phản xạ cảnh giác. Phản xạ tránh pháo của người lính chiến cũng là thứ ám ảnh tôi đến giờ.
Tết thứ ba, may mắn được ở dưới “cứ”, được ăn Tết cùng bà con dân tộc huyện Quản Bạ. Anh em đi chơi chợ, nghe hát then, xem ném còn, dự bữa cơm Tết với đồng bào dân tộc, được dạy làm bùa yêu (nhưng chưa lần nào thành công do công lực quá kém), có đứa thử bắt vợ nhưng phải người có chồng... Đến giờ tôi vẫn tự trách mình, sao không tìm hiểu sâu hơn về phong tục tập quán của đồng bào dân tộc để viết cái gì đó tri ân những con người và vùng đất mình đã qua?
Tết đến, tôi nhớ phong tục của người Dao. Bữa cơm có khách mời, trong bàn ăn toàn người già nhưng bao giờ cũng xếp thêm mấy đứa trẻ nhỏ. Khi ăn, người lớn gắp thức ngon nhất dành cho đứa trẻ. Xong bữa, đứa trẻ lần lượt đi đến từng người, khoanh tay lễ phép nói, xin phép cháu ăn xong. Một phong tục đẹp, văn minh. Tôi nhớ, có món ăn mà ông chủ nhà nói vui là “thịt bà mèo”, ăn sần sật như rau câu. Bây giờ không còn. Đây là món đặc sản của vùng núi đá Hà Giang. Sau này lên Quản Bạ, tìm hiểu mới biết đó là làm từ củ khoai nưa. Khoai nưa giống cây ráy, chỉ mọc ở rừng rậm.
Với người lớn, Tết đến là nhớ lại thuở xưa. Với người lính trải qua chiến trận, Tết đến nhớ nhất những đồng đội mình còn nằm đâu đó trên các triền núi, khe sâu nơi vùng biên cương Tổ quốc. Tết là ký ức.
Nhà văn Nguyễn Quốc Hùng