(HPĐT)- Vẫn còn đó những tranh luận xoay quanh ý niệm thế nào là thơ, nên chuyện thơ hay sẽ càng mông lung hơn khi lý giải về nó. Nhận diện, đề xuất tiêu chí thơ hay thành ra bao hàm ít nhiều tính chủ quan mà người viết bài này khó tránh khỏi.

Nhà thơ Mai Văn Phấn (thứ 3 từ trái sang) trao đổi về thơ tại Thư viện Stockhom, Thụy Điển.
Vậy thế nào là thơ hay? Có lẽ đó là điểm sáng đầu tiên nhưng chỉ là một phần nằm trong tổng thể giá trị thẩm mỹ của thơ. “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan, một nữ sĩ thời cận đại, là bài thơ hay nhưng không thể so sánh với giá trị bất tử của bài thơ “Nam quốc sơn hà”, một tuyên ngôn lồng lộng chính khí.
Ý niệm thơ hay chắc chắn thay đổi theo quan niệm thẩm mỹ Đông-Tây, vùng miền, thời đại, theo khuynh hướng phê bình và còn tùy cách tiếp cận của mỗi người, trong từng thời điểm. Thơ Thanh Tâm Tuyền, Trần Dần, Quang Dũng… một thời bị nhìn nhận phiến lệch là vậy. Tiêu chí thơ hay còn cần được lý giải trên nhiều khía cạnh như ngôn ngữ, tư tưởng, thần thái của bài thơ... Đi tìm một bài thơ hay toàn diện, hay trong mọi thời đại, hay với mọi người là chuyện mò kim đáy biển. Câu thơ: “Mắt em là một dòng sông/ Thuyền anh bơi lội trong dòng mắt em” (Đôi mắt) của thi sĩ Lưu Trọng Lư đến hôm nay vẫn còn nhiều những ý kiến phân tích, trao đổi.
Với tôi, bài thơ hay là có thể mở ra cho chính tác giả và người đọc một không gian mới lạ với sự ngạc nhiên, run rẩy trong tâm thức. Không gian ấy nằm trong khoảng lặng giữa các câu chữ, trong và cả phía sau văn bản thơ. Tôi quan niệm, mỗi nhà thơ là một thế giới, và mỗi bài thơ là một khái niệm về thơ. Như “Tây Tiến” của Quang Dũng cũng dựng lên tượng đài chiến sĩ vô danh: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi/ Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Bên cạnh đó, bài thơ “Cáo tật thị chúng” của thiền sư Mãn Giác lại nuôi trồng niềm tin tâm linh: “Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết,/ Đêm qua sân trước một nhành mai” (Ngô Tất Tố dịch).
Thơ hay cũng không quy định bởi trường phái, thể loại, cũ và mới, truyền thống hay hiện đại. Thơ của Thôi Hiệu, Vương Duy đời Đường…, thơ lục bát của Bùi Giáng, Nguyễn Bính, Đồng Đức Bốn…, thơ Tượng trưng từ Stephane Mallarmé đến Paul Valéry…, thơ Ngôn ngữ của Paul Hoover, thơ Hậu hiện đại của Allen Ginsberg… đều mang lại những chiêm ngẫm hiện thực lớn lao. Một thái độ ứng xử mới với thơ là ý thức được rằng các yếu tố hình thức đều dung chứa ý nghĩa, và, bất kỳ một hình thức cấu trúc nào cũng có khả năng biểu đạt tư tưởng hoặc nội dung thích hợp.
Khái niệm thơ hay cũng không nhất thiết lệ thuộc vào vần điệu, tiết tấu, phải dễ thuộc, dễ nhớ, vì thơ ngoài để thuộc lòng, còn để đọc và cảm nhận thông qua thị giác. Thơ vần điệu với vùng thẩm mỹ quen thuộc thường được người đọc nhớ nằm lòng chưa hẳn là hay và ngược lại. Đây là những câu thơ nhớ nhà trong bài “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu: “Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy/ Trên sông khói sóng gợi buồn ai?”. (Trần Trọng San dịch). Hoặc: “Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt/ Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà” (Phạm Hữu Quang). Câu thơ của Phạm Hữu Quang sẽ dễ nhớ hơn vì nhịp đọc và không gian thơ quen thuộc. Hai câu kết trong bài Hoàng Hạc Lâu cũng nhịp 2-2-3 nhưng gợi ra một không gian thơ mênh mang diệu vợi hơn. Từ đây, nhận ra sự khác biệt về cái hay của thơ truyền thống và hiện đại. Thơ hiện đại với mạch chảy là những hình ảnh đứt đoạn, nhảy cóc, mở ra những trường liên tưởng xa nhất định là khó nhớ nhưng như thế chưa hẳn là không hay. Cách tiếp nhận và cảm thụ của người đọc sẽ quyết định bài thơ là hay hoặc dở.
Có nhiều khía cạnh khác nhau về thơ hay. Nếu Nguyễn Khuyến trầm tư với màu thu thì Hồ Xuân Hương lại cười cợt nhân gian. Khi Bà Huyện Thanh Quan hoài cổ để đeo sầu thì Bùi Giáng lại bỏ mặc nhân thế trong cõi ta bà mộng mị. Mỗi người một vẻ hay trong phong thái. Trên bình diện ngôn ngữ cũng tương tự. Thơ Đường đẹp trang trọng với những ước lệ ngôn từ thì thơ hậu hiện đại tung tẩy những con chữ đời thường. Mỗi người sở hữu một thứ ngôn ngữ riêng nhưng đều rất… thơ.
Thơ hay có thể đến tình cờ với một số thi sĩ trong khoảnh khắc xuất thần... Nhưng phần nhiều các nhà thơ có được thơ hay qua quá trình tu luyện, tích lũy kiến thức phong phú, một hành trình bới tìm “vỉa quặng” của tâm hồn, đợi đến khi chín muồi, cảm xúc sẽ chợt nhòa chợt hiện, và nhà thơ viết với tất cả choáng ngợp của mình. Sự choáng ngợp mê man của tác giả rồi sẽ lan truyền đến người đọc. Đúng như Octavio Paz đã viết “Thơ ca là khoảnh khắc ngừng lại của thời gian”.
Tầm vóc của thi sĩ chính là khả năng khái quát, biến những hình ảnh quen thuộc thành biểu tượng thi ca, tiên tri cả thời đại đang đến. Thơ hay, cuối cùng còn tùy khả năng đồng sáng tạo của người đọc. Phần lớn người đọc đều bị động trước các tác phẩm thơ, tức chờ bài thơ đi vào lối mòn thẩm mỹ của mình để đồng cảm đồng điệu mà ít có ý thức vươn tới giá trị của thi ca. Nếu có thơ tinh tuyển thì cũng cần có cách đọc tinh lọc. Đó là cách đọc dám từ bỏ thói quen cũ, sẵn sàng đến với những giá trị mới một cách bình tĩnh, công bằng; lắng nghe thơ chuyển động, dĩ nhiên quan trọng, nhưng lắng nghe chính mình càng quan trọng hơn. Tôi tin, thơ vẫn cứ hay nếu ta tiếp nhận những giá trị mới bằng một tâm thế mới./.
Nhà thơ Mai Văn Phấn