Đã có một thời, làng nghề là nơi giữ nhịp sống kinh tế, văn hóa của mỗi vùng quê Hải Phòng.


Buổi sáng ở làng nghề, khi sương còn đọng trên mái ngói cũ, tiếng bào gỗ, tiếng chẻ cói, tiếng quạt than hong hương từng là âm thanh quen thuộc đánh thức cả một vùng quê. Đã có thời, những âm thanh ấy không chỉ báo hiệu một ngày lao động bắt đầu, mà còn là nhịp đập của sinh kế, của niềm tin và sự gắn bó giữa con người với mảnh đất nơi họ sinh ra.
Hôm nay, đi dọc nhiều làng nghề truyền thống, âm thanh ấy thưa dần. Trong khoảng lặng còn lại, câu hỏi day dứt không chỉ là nghề còn hay mất, mà là liệu có còn những người trẻ đủ kiên nhẫn và tin tưởng để ở lại, tiếp nối những giá trị đã từng làm nên một thời huy hoàng.
Ở nhiều vùng quê, làng nghề từng là trung tâm của đời sống kinh tế và văn hóa. Nghề nuôi sống làng, giữ người ở lại với ruộng đồng, tạo nên nhịp sống rộn ràng từ sáng đến tối. Khi ấy, mỗi sản phẩm làm ra không chỉ mang giá trị sử dụng, mà còn chứa đựng niềm tự hào của người thợ, của cả một cộng đồng gắn bó với nghề qua nhiều thế hệ.
Thôn Tiên Kiều ở xã Hà Đông từng có những năm tháng như thế. Nhắc lại giai đoạn đầu những năm 2010, ông Phạm Văn Thiếu vẫn còn nguyên cảm giác rộn ràng của một làng chiếu đang vào mùa. Khi đó, gần 80% trong tổng số hơn 800 hộ dân trong làng tham gia làm nghề.

Mỗi mùa cói chín, cả làng như thức dậy trong âm thanh quen thuộc của tiếng đập cói, tiếng chẻ sợi, tiếng khung dệt vang đều ngày đêm. Thương lái từ khắp nơi tìm về, xe chở chiếu nối nhau rời làng. Nghề dệt chiếu mang lại thu nhập ổn định, giúp nhiều gia đình dựng nhà, nuôi con ăn học, tạo nên một giai đoạn sung túc hiếm có ở vùng quê này.
Ở khu dân cư Mật Sơn, phường Chu Văn An, nghề làm chổi chít cũng từng là kế sinh nhai chính của cả làng. Những bó chít phơi kín sân, phơi dọc lối đi. Người lớn làm nghề, trẻ con lớn lên trong tiếng chẻ chít và mùi nắng hong khô nguyên liệu. Chổi làm ra không chỉ phục vụ sinh hoạt hằng ngày mà còn theo chân thương lái đi khắp nơi, giúp nhiều gia đình bám làng, bám ruộng trong những năm tháng khó khăn.
Còn tại thôn Dưỡng Thái Bắc, xã Phú Thái, nghề làm hương đã có bề dày hơn 100 năm. Những con đường làng từng rực lên sắc đỏ, sắc vàng của hương phơi nắng. Mùi trầm, mùi quế hòa vào gió, trở thành dấu hiệu báo mùa Tết đang về. Nghề hương khi ấy không chỉ mang lại thu nhập, mà còn gắn chặt với đời sống tâm linh, với những phong tục đã ăn sâu vào nếp nghĩ của người dân.


Nhưng rồi, khi nhịp sống hiện đại len sâu vào từng làng quê, những nghề từng huy hoàng ấy dần bước vào giai đoạn chậm lại. Người trẻ rời làng, mang theo sức lao động và kỳ vọng về một tương lai ổn định hơn.
Gắn bó với nghề chổi chít từ năm 1979, ông Nguyễn Văn Quyết ở Mật Sơn là một trong số ít người còn kiên trì bám nghề đến hôm nay. Hơn 40 năm qua, đôi tay ông đã quen với từng bó chít, từng sợi buộc. Nghề không còn thời sung túc như trước, nhưng ông vẫn nỗ lực duy trì, lặn lội tìm đầu ra cho cây chổi giữa thị trường ngày càng thu hẹp.

“Giờ làm chủ yếu là giữ nghề thôi. Khó nhất vẫn là bán hàng, có lúc làm ra rồi mà không tiêu thụ được”, ông Quyết nói. Trong làng, lớp trẻ gần như không còn mấy ai theo nghề. Người gắn bó phần lớn là những người đã lớn tuổi, làm được ngày nào hay ngày ấy.
Ở Dưỡng Thái Bắc, không khí làm nghề cũng trầm lắng hơn nhiều so với trước. Bà Trần Thị Thao thẳng thắn nói về nghề làm hương bằng những lời mộc mạc. Theo bà, nghề này bẩn thỉu, quanh năm nhem nhuốc nhựa nến, lại bận bịu suốt dịp Tết. Công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, làm nhiều nhưng thu nhập không cao, lại phụ thuộc vào thời tiết.

Rồi lớp trẻ lớn lên chứng kiến sự vất vả ấy không còn muốn theo nghề. Từ một làng hương có lịch sử hơn một thế kỷ, đến nay Dưỡng Thái Bắc chỉ còn lại 6 hộ duy trì nghề. Điều khiến những người còn gắn bó trăn trở nhất là tuổi của họ ngày một cao, trong khi người kế cận gần như vắng bóng.
Câu chuyện ở Tiên Kiều còn chạnh lòng hơn. Từ chỗ gần 80% số hộ dân làm chiếu, đến nay cả làng chỉ còn vỏn vẹn 2 hộ duy trì nghề. Ông Phạm Văn Thiếu nhìn những khung cửi phủ bụi mà không khỏi tiếc nuối. Chiếu cói thủ công không thể cạnh tranh với sản phẩm công nghiệp về giá và mẫu mã. Nghề từng nuôi sống cả làng nay trở thành công việc hiếm hoi, tồn tại chủ yếu bằng sự tâm huyết của vài gia đình còn nặng lòng với nghề cũ.
Sự rời đi của người trẻ không phải là sự quay lưng với truyền thống, mà là hệ quả tất yếu của những thay đổi trong đời sống kinh tế. Khi nghề không còn bảo đảm sinh kế, việc tìm người kế nghiệp trở nên vô cùng khó khăn.

Dẫu vậy, không phải làng nghề nào cũng đứng yên trước thách thức. Ở một số nơi, người trẻ vẫn ở lại, mang theo những cách làm mới để giữ nghề cũ.
Làng nghề mộc Đông Giao (xã Cẩm Giàng) là một ví dụ rõ nét. Với dân số khoảng 6.000 người, có tới khoảng 90% số hộ gắn bó với nghề mộc mỹ nghệ, Đông Giao không chỉ là một làng nghề, mà là một cộng đồng sống cùng nghề, lớn lên cùng nghề. Toàn làng hiện có khoảng 2.500 lao động tham gia sản xuất, trong đó khoảng 80% là lao động trẻ.
Trong những xưởng gỗ còn đỏ mùi mùn cưa, anh Nguyễn Ngọc Huấn là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ trẻ gắn bó với nghề. Lớn lên trong gia đình có truyền thống làm mộc, anh Huấn sớm quen với tiếng cưa, tiếng bào, với những khối gỗ thô dần thành hình qua đôi tay người thợ.
Khi nhiều bạn bè cùng trang lứa rời làng tìm việc ở khu công nghiệp, anh Huấn chọn ở lại. Anh vừa kế thừa tay nghề của cha ông, vừa mạnh dạn đầu tư máy móc, cải tiến mẫu mã, chủ động tìm đầu ra cho sản phẩm. Nghề mộc ở Đông Giao vì thế không chỉ được gìn giữ, mà còn tạo ra sinh kế ổn định, đủ sức giữ chân người trẻ.
Nói về vai trò của thế hệ kế cận, Nghệ nhân Ưu tú Vũ Xuân Thép, người có nhiều năm gắn bó với làng mộc Đông Giao, cho rằng lớp trẻ chính là yếu tố quyết định sự sống còn của làng nghề. Theo ông Thép, nghề mộc muốn tồn tại trong bối cảnh hiện nay không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền đời, mà cần sự nhanh nhạy, sáng tạo và khả năng tiếp cận thị trường của người trẻ.
“Thế hệ chúng tôi giữ nghề bằng tay nghề và sự cần cù, còn lớp trẻ giữ nghề bằng tư duy mới. Có các cháu tiếp nối, mạnh dạn đổi mới mẫu mã, ứng dụng máy móc, mở rộng thị trường thì nghề mộc Đông Giao mới đi đường dài”, nghệ nhân Vũ Xuân Thép chia sẻ.
Với ông, việc ngày càng nhiều lao động trẻ lựa chọn gắn bó với nghề không chỉ giúp làng mộc duy trì sản xuất, mà còn tạo nền tảng để nghề truyền thống thích ứng với nhịp sống hiện đại.
Tại làng nghề in khắc mộc bản đã hơn 500 tuổi Thanh Liễu (phường Tân Hưng), nghệ nhân trẻ Nguyễn Công Đạt chọn gắn bó với một nghề kén người theo, đòi hỏi kỹ thuật tinh xảo và sự am hiểu chữ nghĩa. Từ những ngày đầu học nghề, anh kiên trì rèn từng nét khắc, từng thớ gỗ.

Không chỉ làm nghề, anh Đạt còn tìm cách đưa mộc bản đến gần hơn với cộng đồng thông qua trưng bày, trải nghiệm, giáo dục di sản. Với anh, giữ nghề không chỉ là giữ kỹ thuật, mà là giữ một phần ký ức văn hóa đang dần mờ nhạt.
Những câu chuyện ấy cho thấy, người trẻ không hẳn quay lưng với làng nghề. Họ chỉ cần nhìn thấy một con đường rõ ràng cho tương lai. Khi nghề truyền thống được hỗ trợ về thị trường, được đổi mới cách làm và được xã hội trân trọng, người trẻ sẽ quay về.
Sau sáp nhập, thành phố Hải Phòng có hơn 100 làng nghề, trong đó có hơn 50 làng nghề truyền thống với các sản phẩm đặc trưng. Không chỉ tạo sinh kế cho hàng nghìn lao động, đây là nguồn lực văn hóa, kinh tế quan trọng, góp phần tạo bản sắc riêng và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn của thành phố Cảng.
Tuy vậy, ông Trịnh Quốc Đạt, Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam nhận định, thị trường tiêu thụ truyền thống của nhiều làng nghề vẫn còn hẹp, trong khi thương mại điện tử đang mở ra cơ hội lớn để sản phẩm làng nghề vươn xa, tiếp cận khách hàng trên toàn quốc và quốc tế mà không đòi hỏi chi phí mặt bằng lớn.
Ông nhấn mạnh, trong bối cảnh kinh tế số đang trở thành động lực tăng trưởng toàn cầu, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển thương mại điện tử nhanh nhất Đông Nam Á. Cần có chính sách hỗ trợ đào tạo, vốn, khoa học - công nghệ và xúc tiến thương mại để người trẻ yên tâm gắn bó với nghề, coi nghề truyền thống là một lựa chọn nghề nghiệp nghiêm túc.

Tìm bóng người trẻ ở làng nghề truyền thống không chỉ là nỗi trăn trở của hôm nay, mà là câu hỏi đặt ra cho tương lai. Khi những người thợ già dần buông tay khỏi khung cửi, khỏi bàn bào, khỏi những khuôn gỗ đã theo họ suốt đời, làng nghề chỉ có thể tiếp tục nếu có một thế hệ đủ trẻ để tiếp nối và đủ năng lực để làm mới.
Trong bối cảnh thương mại số mở ra những thị trường vượt khỏi lũy tre làng, nghề truyền thống không còn chỉ cần đôi tay khéo, mà cần cả kỹ năng tiếp cận công nghệ, tư duy thị trường và khả năng kể câu chuyện sản phẩm. Những điều đó, ở nhiều làng nghề, chỉ có thể trông cậy vào lớp trẻ. Họ không chỉ học nghề của cha ông, mà còn học cách đưa nghề lên không gian số, kết nối với khách hàng ở xa, biến giá trị thủ công thành sinh kế bền vững.
Khi người trẻ đủ tự tin coi nghề truyền thống là một con đường có tương lai, làng nghề sẽ không chỉ sống bằng ký ức huy hoàng, mà tiếp tục hiện diện như một thực thể đang vận động, thích ứng và lan tỏa giữa đời sống hiện đại.
Thực hiện: ĐỖ TUẤN