(HPĐT)- Nhập ngũ khi ở độ tuổi mười tám, đôi mươi, giờ đây, những người cựu thủy thủ ở tuổi “xưa nay hiếm” vẫn nhớ như in từng chuyến tàu, tên những người đồng đội vào sinh, ra tử. Đối với họ, ký ức về những con tàu không số huyền thoại cách đây vừa tròn 60 năm vẫn như mới ngày hôm qua...

Từ trái qua: Các cựu thủy thủ đoàn tàu không số Trần Văn Lịch, Lưu Quang Hào và Đỗ Chính cùng ôn lại ký ức về những chuyến tàu huyền thoại.
Những chuyến đi không quên
Những ngày tháng 10 lịch sử, nhân kỷ niệm 60 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (23-10-1961-23-10-2021), cuộc hội ngộ của ba cựu thủy thủ đoàn tàu không số năm xưa như kéo dài bất tận. Trong bộ quân phục Hải quân, họ tay bắt mặt mừng, cùng nhau ôn lại những năm tháng hào hùng lênh đênh trên những con tàu không số, vượt qua sóng gió, mưa bom bão đạn kẻ thù, chở theo hàng chục tấn vũ khí chi viện chiến trường miền Nam.
Từng 2 lần tham gia vận chuyển vũ khí cập bến Bạc Liêu vào tháng 12-1964 và tháng 1-1965, ông Đỗ Chính, cựu thủy thủ đoàn tàu không số nhớ lại: Tôi nhập ngũ năm 18 tuổi, đóng quân tại Trung đoàn 170 ở Tiên Yên (Quảng Ninh). Sau 3 tháng huấn luyện gian khổ, chúng tôi được điều về Đoàn Vận tải thủy 759, tiền thân của Đoàn 125 sau này. Việc vận chuyển vũ khí được giữ bí mật tuyệt đối, chỉ khi lên tàu, chúng tôi mới được biết điểm đến. Khi tàu vừa khởi hành, cả đoàn cùng hô vang quyết tâm, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tàu và vũ khí. Để tránh sự phát hiện của địch, chúng tôi phải tìm một con đường mới, hành trình trên vùng biển quốc tế, qua hải phận một số nước Đông Nam Á. Do không có hải đồ biển phía Nam nên vừa đi, chúng tôi phải dùng sào tre để xác định tọa độ. Lênh đênh trên biển gần chục ngày đêm thì tàu cập bến, mang theo hơn 60 tấn vũ khí. Trên đường quay về Hải Phòng, tàu chúng tôi gặp máy bay trinh thám của địch. Theo kế hoạch định sẵn, anh em thủy thủ chúng tôi cải trang thành ngư dân đang vá lưới, câu cá, chuyển hướng tàu nhiều lần để đánh lạc hướng địch. Suốt 6 giờ bám theo tàu, chúng mới rời đi. Mọi người đều thở phào nhẹ nhõm.
Còn ông Trần Văn Lịch, Chủ tịch Hội truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển tại Hải Phòng vẫn nhớ rất rõ 3 lần vượt biển vào tháng 10, tháng 12-1964 và tháng 7-1967. Ông nhớ lại: Đêm 15- 10-1964, tôi cùng 16 cán bộ, chiến sĩ xuống tàu 41, xuất phát từ bến K15 Đồ Sơn làm nhiệm vụ chở 64 tấn vũ khí vào Cà Mau. Tàu được cải trang thành tàu đánh cá, do thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh chỉ huy. Ngay chuyến đi đầu tiên của đời lính, sau 1 ngày 1 đêm lênh đênh trên biển, tàu 41 gặp trục trặc khi bị mắc cạn tại bãi san hô thuộc quần đảo Hoàng Sa. Anh em trên tàu rất lo lắng bởi 2 chuyến tàu trước đó bị mắc cạn buộc phải phá tàu. May mắn thay, khi lặn xuống kiểm tra, thấy bánh lái của tàu không bị hỏng, thuyền trưởng Thạnh lệnh cho anh em nằm chờ đến trưa hôm sau, nước lên, tàu tiếp tục hành trình. Đêm 22-10-1964, tàu cập bến Cà Mau, bàn giao 64 tấn vũ khí cho quân giải phóng. Chuyến đi tiếp theo vào cuối tháng 12-1964, tàu 41 nhận nhiệm vụ mở bến Vũng Rô (Phú Yên) thành công. Sau này, tàu 41 mang số hiệu HQ 671, được trưng bày tại Bảo tàng Quân chủng Hải quân. Năm 2017, tàu được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận là bảo vật quốc gia.
Quyết tử để bảo vệ tàu
Không giống những câu chuyện của ông Lịch, ông Chính, ký ức của trung tá Lưu Quang Hào, cựu thủy thủ đoàn tàu không số mang nhiều tâm tư, trăn trở. Ông nhớ mãi chuyến đi vào năm 1968, tàu 43 của ông là 1 trong 4 tàu nhận nhiệm vụ chi viện cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Khi chỉ còn cách bờ biển Quảng Trị chừng 1 km, đêm hôm đó, tàu bị địch phát hiện. Quân địch điều 3 tàu chiến và 3 máy bay trực thăng bám theo, bắn pháo sáng rực cả vùng trời. Sau hơn 1 giờ chiến đấu ác liệt, khi quân ta bắn rơi 1 trực thăng, địch mới rời đi. Trong số 17 cán bộ, chiến sĩ co mặt trên tàu, có 3 đồng chí hy sinh, 11 đồng chí bị thương. Nói đến đây, giọng ông Hào chùng xuống khi nhắc đến người đồng đội Vũ Xuân Ruệ, quê Tiền Hải (Thái Bình) bị trúng đạn 20 ly, hy sinh tại chỗ. “Anh Ruệ tốt tính lắm, hay động viên anh em cố gắng hoàn thành nhiệm vụ để sớm đoàn tụ cùng gia đình. Trước khi xuống tàu, anh mới lập gia đình được vài ngày. Vậy mà sau 3 ngày lên tàu, anh đã mãi mãi nằm xuống”- ông Hào rưng rưng kể. Ngoài anh Ruệ, thủy thủ trưởng Nguyễn Văn Kiểm, quê Bình Định và anh Võ Nho Tòng, quê Thái Thụy (Thái Bình) khi đang tiếp đạn cho khẩu DKZ thì bị trúng đạn, hy sinh trong tư thế ngồi.
Bị mảnh đạn găm trúng bụng và bàn tay, ông Hào cùng đồng đội quyết định cho phá hủy tàu và vũ khí để bảo đảm tuyệt đối bí mật về tuyến vận tải biển chiến lược. Sau khi hủy tàu xong, sóng to, gió lớn, dùng hết sức lực, ông bơi vào bờ thì kiệt sức. Ông được người dân huyện Đức Phổ (tỉnh Quảng Ngãi) cứu, đưa xuống hầm bí mật cất giấu. Liên tục 7 ngày, địch lùng sục gắt gao tìm bắt các chiến sĩ của tàu dạt vào đất liền, nhưng thất bại. Ông Hào sau đó điều trị tại bệnh xá, được bác sĩ Đặng Thùy Trâm tận tình cứu chữa. Ông chia sẻ: Hồi đó, chúng tôi đều là những thủy thủ tuổi mười tám, đôi mươi, nhưng ai nấy đều mang trong mình tình yêu nước mãnh liệt, tự nhủ với nhau là dù phải hy sinh đến người cuối cùng cũng quyết không để địch phát hiện ra những con tàu không số.
Vững tin vào tương lai 60 năm qua đi, nhưng những ký ức hào hùng về đoàn tàu không số gắn với tuyến vận tải biển chiến lược mang tên đường Hồ Chí Minh trên biển vẫn sống mãi trong tâm khảm những người cựu thủy thủ năm xưa. Có những chuyến tàu vượt biển thành công, góp sức chi viện chiến trường miền Nam để làm nên những chiến công lẫy lừng, mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh năm 1975. Song, cũng có chuyến tàu nằm lại giữa biển khơi cùng những người chiến sĩ mãi mãi tuổi hai mươi. Để có được hòa bình hôm nay, chúng ta luôn nhớ công lao của các thế hệ cha ông đã đánh đổi biết bao máu xương vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc.
Nhìn lại chặng đường 60 năm xây dựng và phát triển, nhất là thành tựu mà Hải Phòng đạt được những năm gần đây, ba cựu thủy thủ đoàn tàu không số năm xưa vui mừng, phấn khởi. Ông Trần Văn Lịch chia sẻ: Điều khiến tôi tự hào và vui mừng nhất là thành phố ta đến nay vẫn vững vàng trước đại dịch COVID-19. Sau hơn 2 tháng thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch hiệu quả cao, hiện nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoạt động trở lại. Thành phố trở về trạng thái “bình thường mới”, người dân được sinh hoạt, làm việc, học tập trong điều kiện an toàn. Đó là kết quả của sự chung sức chung lòng của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân thành phố trong cuộc chiến chống đại dịch.
Tiếp mạch cảm xúc, ông Đỗ Chính đánh giá: Không chỉ là “vùng xanh” hiếm hoi của cả nước, Hải Phòng còn giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế- xã hội với nhiều chỉ số đạt và vượt mức kế hoạch. Nhiều công trình hạ tầng giao thông, đô thị như: Cầu Quang Thanh, cầu Dinh, cầu Rào 1, đường Đông Khê 2 giai đoạn 1, tuyến đường từ nút giao Nam cầu Bính đến đường Tôn Đức Thắng-Máng Nước… được khởi công, đẩy nhanh tiến độ hoặc hoàn thành trong thời điểm thành phố cùng cả nước tăng cường chống dịch. “Dù còn nhiều khó khăn, thách thức trong thời gian tới khi dịch bệnh diễn biến phức tạp, nhưng chúng tôi tin tưởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, chính quyền thành phố cùng tinh thần đoàn kết, thống nhất, quyết tâm cao của quân và dân, Hải Phòng sẽ tiếp tục hoàn thành xuất sắc “mục tiêu kép”./.
Bài và ảnh: NGUYÊN NGUYÊNNgày 23-10-1961, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn vận tải biển 759, sau này trở thành Lữ đoàn 125 Hải quân. Đêm 11-10-1962, chiếc tàu gỗ đầu tiên mang tên “Phương Đông 1” vận chuyển thành công 30 tấn vũ khí rời bến K15 Đồ Sơn, đến Cà Mau, mở thành công đường Hồ Chí Minh trên biển. Từ năm 1961-1975, những con tàu không số cùng cán bộ chiến sĩ Đoàn 125 dũng cảm, kiên cường, tổ chức thực hiện liên tục 2.047 chuyến đi, vận chuyển 150.000 tấn vũ khí, 80.000 lượt cán bộ, chiến sĩ ra Bắc vào Nam, góp phần chi viện chiến trường lớn giành nhiều thắng lợi.