2 năm qua, tỷ lệ người dân nông thôn Hải Phòng được sử dụng nước sạch ngày càng tăng.

Đây là kết quả sau 2 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 31/7/2024 của Ban Thường vụ Thành ủy về các giải pháp bảo đảm cấp nước sạch nông thôn.
Cách đây chưa lâu, thôn Kim Ngân, xã Vĩnh Am trước đây, nay là xã Vĩnh Thuận, luôn là "điểm nóng" về vấn đề nước sinh hoạt do người dân liên tục phản ánh đến chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng về tình trạng nước cấp không bảo đảm chất lượng. Nhưng tình trạng này đã được khắc phục.
Đến nay, hơn 460 hộ dân ở thôn Kim Ngân đã chính thức được dùng nước sạch từ Nhà máy nước Vĩnh Bảo 1 (Công ty CP Cấp nước Hải Phòng). Đây là kết quả từ sự cố gắng cao của chính quyền địa phương và đơn vị cấp nước sau khi tiếp nhận chuyển nguồn từ Nhà máy nước Vĩnh An 2.
Cùng với thôn Kim Ngân, 100% số người dân các thôn trong xã Vĩnh An trước đây, nay là xã Vĩnh Thuận, được sử dụng nước sạch từ Nhà máy nước Vĩnh Bảo 1.
Thời gian qua, trên địa bàn thành phố cũng có nhiều nhà máy nước ở khu vực nông thôn hoạt động không bảo đảm chất lượng, khó khăn trong việc khai thác nguồn nước thô đã chủ động hợp tác, chuyển nguồn cấp mới với các đối tác có uy tín, năng lực cấp nước sạch để bảo đảm chất lượng nước cấp cho nhân dân.
Đơn cử như tại khu vực Thủy Nguyên, đến nay, địa phương đã tuyên truyền, vận động được hàng chục nhà máy nước như: Thiên Hương, Chính Mỹ 1, Kênh Giang 1, Tân Dương, Thủy Triều 3... liên kết, chuyển nhượng vùng phục vụ cho các nhà máy nước hoạt động tốt.
Hay như Nhà máy nước Hiệp Sơn (phường Trần Liễu), nhà máy nước Bạch Đằng (xã Bắc An Phụ), nhà máy nước sạch Thanh Miện (xã Thanh Miện), Nhà máy nước Việt Hòa (xã Gia Lộc)… Các đơn vị đã và đang đầu tư hạ tầng và cấp nước thêm nhiều khu vực dân cư trên địa bàn.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, sau gần 2 năm thực hiện Nghị quyết số 15 của Ban Thường vụ Thành ủy về các giải pháp bảo đảm cấp nước sạch nông thôn, công tác cấp nước sạch trên địa bàn thành phố đã đạt nhiều kết quả tích cực.
Cụ thể, trước khi nghị quyết được ban hành, tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch từ các nhà máy nước đô thị và nhà máy nước nông thôn quy mô lớn, có chất lượng ổn định đạt khoảng 72,1%. Đến nay, tỷ lệ này tăng lên 89,1%.
Đáng chú ý, các nhà máy nước đô thị đã mở rộng phạm vi cấp nước, phục vụ khoảng 48,1% số dân tại các xã, phường trước đây sử dụng nước từ các nhà máy nước nông thôn. Nhiều địa phương như Nghi Dương, Kiến Hưng, Vĩnh Bảo, Nam Thanh Miện, Tứ Kỳ, Gia Lộc, Cẩm Giàng... hiện đã có 100% số hộ được sử dụng nước sạch, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt của người dân khu vực nông thôn.

Đến thời điểm này, toàn thành phố có 244 công trình cấp nước nông thôn, trong đó 200 công trình đầu tư theo Chương trình mục tiêu quốc gia.
Để tiếp tục nâng cao tỷ lệ bao phủ dịch vụ cấp nước sạch khu vực nông thôn, thực hiện thành công mục tiêu đến năm 2030, tất cả người dân nông thôn được cung cấp nước sạch đạt quy chuẩn, hoàn thành tổ chức lại hệ thống cấp nước nông thôn trên phạm vi toàn thành phố; chấm dứt hoạt động các nhà máy nước không phù hợp với quy hoạch, không bảo đảm chất lượng, không bảo đảm hoạt động bền vững, thành phố sẽ tập trung thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp.
Theo đó, điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ về quy hoạch theo hướng tiếp tục rà soát, hoàn thiện, cụ thể hóa phương án phát triển hệ thống hạ tầng cấp nước nông thôn phù hợp với Quy hoạch thành phố Hải Phòng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được phê duyệt; đồng thời làm cơ sở hoàn thiện Quy hoạch chuyên ngành cấp nước đến năm 2040, định hướng đến năm 2050.
Trên cơ sở đó, xác định rõ định hướng phát triển hệ thống cấp nước theo vùng, tiểu vùng; rà soát, phân loại công trình để làm căn cứ xác định công trình tiếp tục đầu tư nâng cấp, công trình chuyển đổi thành trạm trung chuyển, trạm tăng áp và công trình chấm dứt hoạt động theo lộ trình đối với các trường hợp không phù hợp quy hoạch, không bảo đảm chất lượng nước, không đáp ứng yêu cầu hoạt động bền vững.
Thành phố cũng tiến hành điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ về tổ chức lại hệ thống cấp nước nông thôn theo hướng giảm dần mô hình cấp nước nhỏ lẻ, phân tán; mở rộng vùng cấp nước của các nhà máy nước đô thị, nhà máy nước nông thôn hoạt động bền vững; đẩy nhanh lộ trình chấm dứt hoạt động đối với các công trình không bảo đảm hoạt động bền vững, không phù hợp quy hoạch, không bảo đảm chất lượng; ưu tiên xử lý trước các công trình thường xuyên phát sinh kiến nghị của người dân, các công trình có điều kiện thuận lợi để bố trí nguồn cấp thay thế.
Đối với các công trình không còn khả năng duy trì, không phù hợp quy hoạch, không bảo đảm chất lượng hoặc không bảo đảm hiệu quả đầu tư, thực hiện rà soát, đề xuất phương án xử lý tài sản theo đúng quy định, đồng thời tiếp tục giao UBND cấp xã quản lý hiện trạng công trình để phối hợp thực hiện phương án xử lý sau khi công trình dừng hoạt động.
Trước mắt, các địa phương, đơn vị liên quan cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập trung đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng đường ống phân phối nước đến 100% số hộ sử dụng nước trong vùng phục vụ theo thỏa thuận đã ký kết giữa các đơn vị cấp nước và UBND các xã.
Đối với các khu vực đã có hệ thống phân phối nước, các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân lắp đặt, sử dụng nước sạch; đồng thời huy động các nguồn lực xã hội hóa hỗ trợ hộ nghèo, hộ chính sách tiếp cận, đấu nối sử dụng nước sạch.
Đối với các khu vực chưa có hệ thống phân phối nước, UBND
các xã yêu cầu các đơn vị cấp nước cam kết đầu tư hoàn thiện hệ thống đường ống phân phối đến 100% số hộ sử dụng nước trong vùng phục vụ theo thỏa thuận đã ký kết, bảo đảm người dân có thể tiếp cận và sử dụng nước sạch ngay sau khi hoàn thành đầu tư.
Với những đơn vị đã thống nhất được phương án chuyển nguồn cấp nước, cần đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng đấu nối, thay thế nguồn cấp nước.
Thành phố kiên quyết dừng hoạt động, đóng cửa các nhà máy nước hoạt động không bảo đảm tiêu chí theo quy định.
TIẾN ĐẠT