(HPĐT)- Là 1 trong 9 tỉnh, thành phố duy trì vững chắc mức sinh thay thế, nhưng thành phố Hải Phòng nhiều năm liền nằm trong tốp 10 tỉnh, thành phố có tỷ số giới tính khi sinh cao nhất cả nước và đang trong tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS). Việc chênh lệch tỷ lệ bé trai so với bé gái khi sinh ở các địa phương không chỉ ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục, chăm sóc trẻ, mà còn gây ra mối lo ngại về bất bình đẳng giới trong tương lai.

Cán bộ Y tế - Dân số phường Bàng La (quận Đồ Sơn) tuyên truyền đến chị em trong độ tuổi sinh đẻ và người thân của họ về những hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh.
Chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh
Xã Hoàng Động (huyện Thủy Nguyên) là địa phương có tỷ số giới tính khi sinh cao của thành phố (128 bé trai/100 bé gái sinh ra còn sống). Sự MCBGTKS được thể hiện qua quan sát các lớp học tại Trường THCS của xã bởi số học sinh nam luôn cao hơn số học sinh nữ. Điển hình năm 2020-2021, nhà trường có 267 học sinh nam/493 tổng số học sinh toàn trường, chiếm 54%. Riêng khối 6 có 83 học sinh nam/149 học sinh toàn khối, chiếm 56%. Cô Dương Thị Ngọc Hà, Hiệu trưởng nhà trường cho biết: “Trong những năm gần đây, tỷ lệ học sinh nam nhiều hơn nữ ở tất cả khối lớp. Tình trạng này gây ra những khó khăn nhất định trong công tác giáo dục ở nhà trường vì học sinh nam thường hiếu động hơn nữ; chưa kể với các hoạt động mang tính tập thể, học sinh nữ thường yếu thế hơn”.
Theo báo cáo thực trạng MCBGTKS tại thành phố Hải Phòng trong 10 năm (2011-2020) của Chi cục Dân số -KHHGĐ thành phố cho thấy: MCBGTKS hiện đang là thách thức lớn, khá gay gắt đối với công tác dân số nói riêng và công tác y tế nói chung. So với tình hình chung của cả nước, MCBGTKS ở Hải Phòng xuất hiện muộn hơn (khoảng từ năm 2011 đến nay) nhưng tốc độ nhanh hơn. Bên cạnh đó, tỷ số giới tính khi sinh của thành phố diễn biến phức tạp; tỷ số này cao ngay từ lần sinh đầu và cao nhất ở lần sinh thứ ba trở lên. Không chỉ riêng huyện Thủy Nguyên, 14/15 quận, huyện đều diễn ra tình trạng MCBGTKS, trong đó, khu vực nông thôn MCBGTKS cao hơn khu vực thành thị (năm 2019, thành thị là 110,5 bé trai/100 bé gái; nông thôn là 122 bé trai/100 bé gái)…
MCBGTKS dẫn tới dẫn tới hậu quả nghiêm trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thành phố, gây bất bình đẳng giới và áp lực lên cả nam và nữ giới. Đối với cộng đồng, tình trạng “thừa nam, thiếu nữ” dẫn đến một bộ phận nam giới phải kết hôn muộn và nhiều người trong số họ không thể kết hôn. Việc gia tăng tỷ số giới tính khi sinh cũng gia tăng sự bất bình đẳng, như: nhiều phụ nữ kết hôn sớm, tỷ lệ ly hôn và tái hôn của phụ nữ tăng cao; tình trạng bạo hành giới, buôn bán phụ nữ, trẻ em và các tệ nạn xã hội như mại dâm, ma túy… gia tăng.
Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê cho thấy, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam là 111,5 bé trai/100 bé gái sinh ra còn sống), cao hơn so với mức sinh tự nhiên (104 đến 106 bé trai/100 bé gái sinh ra còn sống) và Việt Nam là một trong 3 quốc gia có tỷ số MCBGTKS cao nhất (sau Trung Quốc và Ấn Độ). Các chuyên gia quốc tế dự báo, nếu tình trạng MCBGTKS không được kiểm soát, đến năm 2050, Việt Nam sẽ dư thừa khoảng 2,3 đến 4,3 triệu nam giới.
Kiểm soát, ngăn chặn lựa chọn giới tính thai nhi
Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới gia tăng tỷ số giới tính khi sinh là ảnh hưởng tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” bao đời nay. Chính thế hệ các ông bà còn nặng tư tưởng “nam thì dài đời” nên bắt ép, gây áp lực lên con cháu phải sinh con trai khiến nhiều cặp vợ chồng trẻ sinh con một bề là gái (trong đó có một số cán bộ, đảng viên) phải sinh con thứ 3 là trai để “nối dõi tông đường”. Ngoài ra, do điều kiện, mức sống thay đổi, nhiều gia đình trẻ mong muốn có ít con nhưng phải là con trai cho “chắc chắn”, “bằng bạn, bằng bè” là lý do khiến họ chủ động tìm kiếm các nơi cung cấp dịch vụ lựa chọn giới tính thai nhi.
Để kiểm soát tỷ số giới tính, hạn chế MCBGTKS, thực hiện tốt mục tiêu đạt tỷ số 109 bé trai/100 bé gái sinh ra, sống được vào năm 2030 như Nghị quyết số 21-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác dân số trong tình hình mới và Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030, các ngành, địa phương đều thống nhất cho rằng cần huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc và thực hiện đồng bộ các giải pháp. Cụ thể, tăng cường truyền thông, vận động, giáo dục, thuyết phục người dân nhận thức đúng về bình đẳng giới, từng bước làm thay đổi nhận thức và tư tưởng lạc hậu về sinh con trai, con gái. Bên cạnh đó, nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ, trẻ em gái trong gia đình và xã hội; có chính sách ưu tiên đối với phụ nữ, tạo cơ hội để phụ nữ phát triển khẳng định bản thân trong xã hội. Đồng thời, cơ quan chức năng kiến nghị các bộ, ngành Trung ương rà soát sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật liên quan đến dân số- KHHGĐ, cấm mọi hình thức lựa chọn giới tính khi sinh. Các đơn vị y tế công lập và ngoài công lập có liên quan cần ký cam kết không vi phạm quy định về chẩn đoán, xác định giới tính thai nhi. Về phía các địa phương, bổ sung nội dung về kiểm soát MCBGTKS vào trong hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố; huy động sự vào cuộc, tham gia của các cấp, ngành, những người có uy tín trong dòng họ, cộng đồng, người dân vào cuộc vận động kiểm soát, giảm thiểu MCBGTKS, từng bước đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên”, Chi cục trưởng Chi cục Dân số- KHHGĐ thành phố Trần Thị Thu Hằng nhấn mạnh./.
Bài và ảnh: Việt Hoàng