Mệnh lệnh từ trái tim

Hồng Nhung 09/05/2025 22:29

Cánh chim đầu đàn trên hành trình tiến ra biển lớn

“Chúng tôi là những người làm bạn với trời xanh bao la và đại dương ngút ngàn tầm mắt”.

Sinh ra ở làng hoa Hạ Lũng, lớn lên nơi miền cửa biển Hải An - Hải Phòng, trong con người của Lưu Văn Quảng vừa phảng phất chất thanh tao của kẻ sĩ, vừa thấm đậm nắng gió bao la hào sảng của biển khơi. Có lẽ vì vậy mà giống như một định mệnh, con đường trưởng thành và sự nghiệp mà ông lựa chọn cả đời gắn bó luôn đầy tính thử thách. Đó là đại dương bao la, là đảo xa, luồng lạch, là những ngọn đèn cô độc giữa trùng khơi…

Từ những năm tháng lặn lội trong bão tố thắp sáng những ngọn hải đăng và đảm bảo an toàn luồng lạch cho tàu thuyền đi biển, tới giai đoạn chèo lái “con tàu lớn” mang theo hàng ngàn người vững vàng trên hành trình hội nhập, dấu chân ông đã in sâu không chỉ trên trên từng bãi cát, từng rặng đá san hô mà còn trong lòng người đi biển. Đối mặt với từng sự lựa chọn đều không hề dễ dàng trong suốt mấy mươi năm, Lưu Văn Quảng chưa từng sợ hãi hay hối tiếc, bởi ông tin rằng tất cả đều rất đáng để dấn thân, khi nó xuất phát từ một điều sâu thẳm: MỆNH LỆNH TỪ TRÁI TIM.

Tuổi trẻ giữa trùng khơi, vượt từng cơn sóng dữ

Trong căn phòng ấm cúng, cuộc trò chuyện của tôi với ông Lưu Văn Quảng - nguyên Tổng Giám đốc Tổng Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Miền Bắc - dường như không bị ảnh hưởng gì bởi tiếng gió rít gào và cái giá lạnh đến tê tái của mùa đông miền Bắc. Có chăng, sự khắc nghiệt ấy nhắc ông nhớ đến những ký ức không thể nào quên nơi đảo xa sóng gió của một thời tuổi trẻ đầy thử thách... 

Ngày 2-9-1986, Hải Phòng vẫn đang oằn mình trong cơn bão số 5, còn có tên là bão Wayne. Đây là một trong những cơn bão có quỹ đạo phức tạp và tồn tại lâu nhất trong lịch sử khí tượng khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương, hình thành từ giữa tháng 8 và kéo dài suốt hơn 20 ngày sau đó. Vào thời kỳ này, công tác dự báo thời tiết còn lạc hậu, thông tin liên lạc vốn nghèo nàn, thông tin về bão còn thiếu thốn hơn dẫn đến sự tàn phá nặng nề ở những nơi cơn bão đi qua. Đúng ngày đó, Lưu Văn Quảng nhận lệnh ra Hòn Dấu thực hiện nhiệm vụ khẩn cấp do Giám đốc Ngô Ngọc Bội giao phó: Phải bằng mọi cách bảo vệ ốp tích - thiết bị đắt giá nhập khẩu từ Nga! Không một phút chần chừ, ông Quảng liên hệ khắp nơi để tìm tàu ra đảo. Nhưng nào ai dám dong thuyền ra khơi khi bão tố? Đang loay hoay lo lắng, ông Quảng nhìn thấy thấp thoáng bóng dáng ông Quang, một người lái cano rất giỏi của Trạm hải đăng Hòn Dấu đang cố gắng buộc cano ở khu vực Bến Thốc.

-Anh Quang. Cho em ra Hòn Dấu ngay với!

-Cậu bị điên à? Ai ra đảo lúc bão tố như này?

-Em không điên. Em nhận nhiệm vụ khẩn cấp, có giấy giới thiệu đây rồi mà liên hệ khắp nơi đều không được!

-Đây cũng không được!

-Không, anh phải cho em ra. Bằng mọi cách phải cho em ra. Thiết bị của nhà nước, cả tấn tiền, không thể để hư hỏng mất mát được!

Cuối cùng một người nguyên tắc như ông Quang cũng đành phải chịu thua trước ý chí của ông Quảng. Cùng với tờ cam kết chịu hoàn toàn trách nhiệm của người kỹ sư trẻ, chiếc cano nhỏ bé mong manh như chiếc lá mạnh mẽ xé bão, vượt sóng dữ tiến về Hòn Dấu. Nhưng đến được rồi, họ vẫn không thể nào cập được bờ vì lúc này gió đang thổi tới cấp 8 cấp 9, sóng biển gầm gào chồm lên chồm xuống. Đúng lúc này ông Quảng chợt nhớ ra ở vị trí đầu kè đá cano có thể dễ dàng tiếp cận hơn nên đề nghị ông Quang lái về phía đó, mặc dù hơn ai hết, ông cũng biết rằng toàn bộ kè lâu nay vẫn phủ một lớp áo giáp làm từ hàng ngàn hàng vạn con hà biển, sắc nhọn như những chiếc dao lam. Đi qua đi lại tới 4-5 lần, cano vẫn không thể tiếp cận vào kè do sóng quá lớn. Đến lần cuối cùng, khi con sóng vừa rút xuống, ông Quang quyết đoán lao nhanh vào, ông Quảng cũng nắm bắt thời cơ tức thời nhảy chồm lên. Hàng ngàn lưỡi dao cứa nát tay, chân, bụng… của ông Quảng. Máu chảy ra thấm đỏ cả áo, len theo những kẽ hà chảy xuống, hòa vào từng đợt sóng biển. Nhưng càng đau ông lại nhủ mình càng phải bám chặt, vì chỉ cần lỏng tay một chút thôi cũng dễ dàng bị cuốn theo sóng mà rơi xuống biển. Cứ thế qua một lúc, canh khi con sóng vừa rút, ông nhanh chóng trèo lên bờ và thực hiện nhiệm vụ. Đến khi mọi việc xong xuôi, người đàn ông cao thước tám lừng lững ấy mới giật mình ngoái lại: Mình vừa đối mặt với tử thần trong gang tấc!

Ở tuổi 34, ông Lưu Văn Quảng được giám đốc Bùi Đức Nhuận đánh giá là chuyên gia về lĩnh vực xây dựng đèn biển và tin tưởng lựa chọn là một trong những thành viên cốt cán tham gia chuyến khảo sát ở Trường Sa vào tháng 10-1992. Ông Quảng còn nhớ, khi đó mình nhận được thông báo khá gấp, chỉ vài ngày trước lịch khởi hành chính thức. Trời xanh, mây trắng, nắng vàng… vui vẻ, rộn ràng như tâm trạng của chàng kỹ sư khi ấy dù biết rằng thời điểm mình đi là mùa biển động nơi Trường Sa bão gió quanh năm. Có lẽ là bởi vì hơn cả những lo ngại, bất cứ ai trong số họ cũng mong trong đời có cơ hội đến với Trường Sa - nơi vùng trời, biển đảo và lãnh thổ thiêng liêng của Tổ Quốc, nơi hạnh phúc của hy sinh và dâng hiến chiến thắng mọi nỗi sợ và cô đơn.

Cảm nhận con tàu lớn như Mỹ Á lắc lư dữ dội giữa đại dương gào thét. Chứng kiến những con sóng nối tiếp nhau đánh vào vách san hô Đá Lát, tạo nên những bức tường bọt nước trắng xóa cao tới 3 mét… Ông Quảng tự nhủ: “Cái cano bé tí đi ở đây mà không bị lật mới là lạ!” Sự khắc nghiệt rõ ràng như thế khiến ông khi ra đến nơi phải vội vã chuẩn bị cẩn thận cho mọi tình huống bất trắc xảy ra. Vậy nên, khi xảy ra vụ tai nạn đắm cano khảo sát ở đảo Đá Lát vào ngày 25-10-1992, có lẽ ông Quảng là một trong những người bình tĩnh nhất. Anh em trong đoàn sau này đã mô tả lại về ông Quảng tựa như một nhân vật trong sử thi: “Ông Quảng năm ấy 34 tuổi, cao hơn mét tám, chân dài vai rộng, lừng lững như một ngọn núi và sức khỏe vô biên. Không chỉ vậy, ông còn là một người vô cùng cẩn trọng. Tất cả những điều đó đã giúp ông giữ được mạng sống giữa biển khơi.” Nhưng cá nhân ông Quảng lại không cho là như vậy. Đối với quyết định bơi ngược trở lại tàu khi ấy của mình, sau này càng nghĩ, ông càng thấy đó là chủ quan và liều lĩnh. Khoảng cách 500 mét không quá dài, sẽ không phải cản trở quá lớn đối với người trai tráng ấy, nhưng cuộc vật lộn với sóng lớn ngược dòng nước xiết nơi biển cả mênh mông không bao giờ chắc chắn được điều gì. May mắn cho ông và anh em trong đoàn có thể sống sót là nhờ vào “nước ba đừng” hôm ấy. “Nước khi ấy lừng khà lừng khừng, không lên không xuống. Nếu thủy triều lên, dòng hải lưu mạnh thì không ai có thể thắng nổi nó cho dù có bơi giỏi đến đâu. Một khi hải lưu cuốn người ra biển, thậm chí chẳng thể nào tìm được xác…” Vụ tai nạn nguy hiểm là thế, nhưng khi tôi hỏi sau này trở lại anh có thấy “chờn” không? Ông Quảng chỉ mỉm cười: “Không cần đến sau này. Ngay lần ấy tôi đã không sợ rồi.” Tài liệu khảo sát đã mất hết theo vụ chìm xuồng, ông Quảng không mất đến một giây suy nghĩ đã đề nghị được cùng đồng đội bơi vào đảo để lấy lại số liệu. Đó chính là tinh thần, là khí chất của những người “chiến sĩ” bảo đảm hàng hải trong chuyến công tác Trường Sa năm ấy.

Một năm sau, vào tháng 5-1993, ông Lưu Văn Quảng trở lại Trường Sa nhận nhiệm vụ xây dựng hải đăng Song Tử Tây, ngọn hải đăng đầu tiên của Việt Nam trên quần đảo này. Đây là dự án có nhiều khó khăn do không có dữ liệu khảo sát kỹ lưỡng ngoài tấm bình đồ mỏng manh, thời gian thi công lại trong mùa biển động. Trong những ngày tháng vội vã ấy, nhiều điều không mong muốn đã xảy ra. Hai chiếc pông tông bị đắm trong quá trình vận chuyển vật liệu cập đảo. Và khi dùng cẩu trục kéo chiếc pông tông tiếp theo, một tình huống nguy hiểm chết người suýt cướp đi tính mạng của Lưu Văn Quảng. Chiếc móc giống như cái mỏ neo nặng 40 kg bất ngờ bị tuột, bật lên bật xuống căng như dây cung, bay vút sát qua mặt ông. Lúc ấy, theo bản năng, ông Quảng chỉ kịp ngồi xuống ôm đầu mà không có bất kỳ một phản xạ nào khác. Cứ thế cho đến khi chiếc móc chậm dần rồi dừng lại, ông mới biết mình vừa may mắn thoát chết trong gang tấc.

Nếu như giữa đại dương mênh mông, có những ngọn đèn không bao giờ tắt để soi đường cho tàu, thuyền đi lại và thắp sáng niềm tin của những người đi biển... thì giữa những năm tháng khốc liệt nơi đầu sóng ngọn gió, cũng có một người đàn ông không ngại ngần ngại tiến vào tâm bão. Không hẳn vì mệnh lệnh từ cấp trên, mà có lẽ vì một điều thiêng liêng hơn thế…

Song dường như, mọi thử thách và nguy hiểm không mảy may làm sờn ý chí và sự sáng tạo của người đàn ông gan dạ này. Sau lần ra Trường Sa khảo sát năm 1992 và xây dựng hải đăng Song Tử Tây năm 1993, ông tiếp tục đến với Trường Sa thi công hải đăng Đá Tây (1994) và An Bang (1995).  Mỗi một lần như vậy đều là một lần không ngừng nhiệt huyết, không dừng sáng tạo, đưa ra các phương án xử lý linh hoạt cho mọi tình huống phát sinh, bảo đảm tối đa chất lượng công trình. Điển hình là trường hợp của đèn biển Đá Tây. Vốn dĩ Bộ Giao thông- Vận tải duyệt phương án thiết kế là khoan cọc nhồi rồi đổ bê tông nhưng sau khi lập phương án thi công, ông Quảng nhận thấy đây là đảo chìm, đặc điểm thủy triều lên xuống và khả năng vận chuyển phương tiện, thiết bị, vật liệu cũng như thi công xây dựng không hoàn toàn thuận theo những tính toán trước đó. Cụ thể, tàu lớn ra được Đá Tây cũng chỉ có sức nâng 2 tấn, trong khi để khoan cọc nhồi 90 cm thì cần đến phần thiết bị không thể tháo rời nặng tới 5 tấn, cũng tức là không thể đưa được ra đảo. Ngay lập tức, ông phản biện phương án cũ và thuyết phục được lãnh đạo Bộ đồng ý đổi phương án mới, đó là đợi khi nước rút, đổ lớp bê tông nghèo cao 1 m, xấp xỉ với mực nước biển khi dâng, sau đó xây gạch chung quanh cao 2,2 m tạo thành bể khô để thuận lợi thi công từ bên trong, đưa công trình lên cao. Vì lượng vật liệu mang ra cần tới 5.000 tấn, vận chuyển thành 4 đợt, kèm hàng trăm tấn nước ngọt nên cũng ở đây, ông đề xuất làm sàn đạo bằng gỗ ở cao trình 3,5 m, diện tích 1.500 m2, mỗi lần chứa được khoảng 1.200 tấn vật liệu xây dựng và toàn bộ máy móc, thiết bị, nước ngọt cho công nhân… Bằng giải pháp của ông, sàn đạo được thi công xong trong 1 tuần, công trình hải đăng được thi công xong trong 3 tháng. Phương án này được đánh giá là tối ưu khi đó và thực tế chứng minh lựa chọn sáng suốt của ông bằng sự thành công và bền vững của công trình.

Ông Lưu Văn Quảng (trái) và ông Nguyễn Văn Hiếu đứng trước hải đăng Đá Tây, Trường Sa.

Vậy mới nói, để xây dựng những ngọn đèn trên đảo - nơi sóng dữ, gió gào, không điểm tựa - người chỉ huy không chỉ cần lòng dũng cảm, mà còn cần sáng tạo đến tận cùng. Đó cũng chính là dấu ấn khắc sâu và khác biệt mà Lưu Văn Quảng lưu lại ở mỗi nơi ông đi qua. Và có lẽ, chính những năm tháng đầy khó khăn khắc nghiệt ấy càng khiến cho ông không ngừng nung nấu những giải pháp về công nghệ. Đó là lý do vì sao con tàu Tổng công ty Bảo đảm An toàn Hàng hải miền Bắc trong hơn một thập kỷ chèo lái sau này của “thuyền trưởng” Lưu Văn Quảng bước vào giai đoạn phát triển nhanh, mạnh và hội nhập mạnh mẽ nhất.

Ngày 4-7-2005, Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam được chia tách thành hai miền, ông Lưu Văn Quảng được bổ nhiệm làm Giám đốc Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải 1 - tiền thân của Tổng Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc sau này. Vào thời điểm đó, công ty có hơn 1.200 người, quản lý 20 tuyến luồng từ Quảng Ninh đến Quảng Ngãi, bảo đảm thông suốt cho hàng hóa và an toàn cho tàu, thuyền qua lại, góp phần mạnh mẽ bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia. Với vai trò Tổng Giám đốc trong suốt 13 năm (2005-2018), ông Lưu Văn Quảng không chỉ là người lãnh đạo mà còn là biểu tượng cho tinh thần tận tụy, sáng tạo và kiên định trong hành trình xây dựng hệ thống an toàn hàng hải vững chắc, hiện đại và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Ngay sau khi nhậm chức, việc đầu tiên vị Giám đốc làm là đến từng trạm đèn, từng trạm luồng ngoài đảo xa. Trong quan điểm của ông, phải tận mắt thấy anh em làm việc thế nào, ăn uống ra sao, ngủ nghỉ ra sao mới có thể thấu hiểu được. Mà khi thấu hiểu rồi mới có thể tìm ra giải pháp để nâng cao hiệu quả công việc, thay đổi chất lượng đời sống của anh em. Nơi những trạm đèn đảo xa thiếu nước, anh em phải chờ hứng từng giọt nước mưa. Và hẳn nhiên, ngay cả những gáo nước giếng khoan đục ngầu, phèn chua đóng váng vẫn thật trân quý biết bao. Rồi lại có những nơi anh em phải vần từng thùng dầu từ đất liền vào đảo, rồi nhọc nhằn gánh từ chân núi lên đỉnh đồi cao. Ngay cả đến rau xanh “tự cung, tự cấp, tự túc” cũng là thứ hàng vô cùng hiếm… Tất cả khó khăn đó thu vào tầm mắt của người lãnh đạo đều là những trăn trở khôn nguôi, cần cấp bách giải quyết. Việc dễ khắc phục ngay lập tức, việc khó huy động trí tuệ tập thể cùng nhau hợp lực. Quan trọng nhất là phải tìm ra cốt lõi của vấn đề thì bài toán lâu dài mới có thể giải quyết. Yếu tố cốt lõi mà ông xác định ở đây là phải nhanh chóng ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng công việc và hiệu quả kinh doanh, từ đó cải thiện bền vững chất lượng cuộc sống của anh em.

Với quan điểm như vậy, Giám đốc Lưu Văn Quảng đi đầu trong đổi mới tư duy, tập trung mũi nhọn vào công nghệ. Một mặt, ông tăng cường đẩy sâu mối quan hệ hợp tác quốc tế, tham gia vào các tổ chức và mạng lưới hàng đầu thế giới trong lĩnh vực hàng hải như IALA (Hiệp hội các cơ quan quản lý Báo hiệu hàng hải quốc tế), IMO (Tổ chức hàng hải quốc tế), UKHO (Cơ quan Thủy đạc vương quốc Anh) … để trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ, tiếp thu những tiến bộ mới nhất, hiện đại nhất. Từ đó, đầu tư có trọng tâm để VMS-North tiệm cận trình độ khu vực và thế giới với hệ thống trang thiết bị như máy đo sâu đa chùm tia, DGPS, phần mềm thủy đạc HYPACK MAX, phần mềm sản xuất hải đồ điện tử 7Cs… Mặt khác, ông đặc biệt quan tâm đến yếu tố con người, giúp họ nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ. Cùng với chính sách tuyển dụng, ông thường xuyên tổ chức đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ, công nhân viên. Đặc biệt là vừa cử các đoàn các bộ, kỹ sư, chuyên gia của công ty tham dự các cuộc hội thảo, hội nghị, tập huấn của các tổ chức quốc tế như IALA, UKHO, EAHC… vừa chủ động mời các chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực hàng hải và bảo đảm an toàn hàng hải về Việt Nam để huấn luyện cán bộ, kỹ sư công ty.

Làm việc với Văn phòng Thủy đạc Anh (UKHO) tại trụ sở Tổng Công ty.

Đồng thời với các chính sách trên, Tổng Giám đốc Lưu Văn Quảng trực tiếp chỉ đạo các bộ phận kỹ thuật và chuyên môn không ngừng học hỏi, nghiên cứu và chế tạo nhiều sản phẩm kỹ thuật tiên tiến. VMS-North trở thành đơn vị đầu tiên ở Việt Nam sản xuất được hải đồ điện tử ENC đạt chuẩn quốc tế. Hay hệ thống nhận dạng tự động AIS nội địa, giúp giảm chi phí chỉ còn 1/5 so với nhập khẩu. Hai sản phẩm trên khi tích hợp với nhau tạo nên sự hỗ trợ hoàn hảo nhất cho người đi biển bấy giờ, giúp họ xác định chính xác vị trí trên biển (đang ở vị trí nào, cách mép luồng bao nhiêu, chiều sâu mực nước, các phương tiện và vật cản chung quanh là gì với khoảng cách xa bao nhiêu…). Ngoài ra là liên tiếp các sáng kiến sáng tạo được ghi nhận, như sản phẩm đèn biển MSCI.LED 132 đạt giải Nhất Hội thi sáng tạo KHKT ngành Giao thông vận tải, giải Ba Vifotec toàn quốc - giúp tiết kiệm điện năng gấp 10 lần và nâng cao độ phủ sáng.

Trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước hiện thực hóa Chiến lược biển 2020 và tiếp tục tiến ra biển lớn trong thế kỷ được mệnh danh là “Thế kỷ của đại dương”, ông Lưu Văn Quảng là một trong những người góp tiếng nói mạnh mẽ nhất khẳng định vai trò then chốt của công tác bảo đảm an toàn hàng hải. Ông trực tiếp tham gia đóng góp xây dựng và triển khai Đề án phát triển Bảo đảm An toàn Hàng hải Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến 2030 - một chiến lược dài hơi để đưa ngành này tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế biển, bảo vệ chủ quyền và hội nhập toàn diện - được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1166/QĐ-TTg.

Với chiến lược đúng đắn hướng ra biển lớn và bằng phương pháp lãnh đạo tận tâm tận tụy, quan tâm sâu sắc tới từng người lao động, ông Lưu Văn Quảng - trong hơn một thập kỷ ở cương vị người “thuyền trưởng” chèo lái con tàu Bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc - đã đưa Tổng Công ty bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ: Thi đua sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trở thành một phong trào rộng khắp trong công ty. Thu nhập của người lao động tăng cao, văn hóa doanh nghiệp gắn kết trên dưới một lòng.

Ông Lưu Văn Quảng (áo màu cam, đứng giữa) tổ chức cho cán bộ, nhân viên thăm Trường Sa Lớn.

Vào năm 2010, trong dịp kỷ niệm 55 năm ngày thành lập, Bảo đảm an toàn hàng hải Miền Bắc được trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang, ông Lưu Văn Quảng xúc động nói: “Bất cứ vào lúc nào và dù đã đi được bao xa, tôi và các cán bộ, công nhân viên đều luôn coi mình đang ở điểm khởi đầu để phấn đấu! Điểm khởi đầu ấy không tự nhiên có, mà được bồi đắp từ mồ hôi, công sức và xương máu đổ xuống của thế hệ cha anh. Bao nhiêu năm đã đi qua, có người đã nằm xuống, có người còn đi tiếp… Chúng tôi cũng vậy, sẽ luôn nhìn lại phía sau để biết ơn và tự hào, nhìn về phía trước để không ngừng nỗ lực và cống hiến.”

Vậy là, từ chàng kỹ sư trẻ vật lộn giữa cơn sóng dữ, mài mình giữa nắng gió biển trời để xây dựng nên những ngọn hải đăng rực sáng giữa đảo xa - như người gieo những nốt nhạc hy vọng giữa bản hòa tấu biển Đông… đến một người lãnh đạo cần mẫn, tận tụy và đầy trí tuệ, dẫn dắt con tàu chở hơn nghìn người vững vàng tiến ra biển lớn, ông Lưu Văn Quảng sống một cuộc đời trọn vẹn với biển, với những ngọn hải đăng, với niềm tin lặng thầm nhưng bất khuất…

“Hãy sống như những ngọn đèn biển - Âm thầm nhưng không bao giờ tắt”.

Hồng Nhung
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Mệnh lệnh từ trái tim