Trong 35 năm đổi mới đất nước, Hải Phòng là một trong những địa phương đi đầu, tạo nên những chuyển biến quan trọng, làm thay đổi to lớn diện mạo và vị thế của thành phố Cảng. Thời thành phố chỉ có “bốn cống, ba cầu, năm cửa ô” vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, nay được thay bằng hệ thống đường giao thông rộng mở từ nội thành ra ngoại thành, các hệ thống cầu vượt, đặc biệt là các cầu bê tông vững chãi qua sông lớn, nối thành phố với nhiều địa phương bạn. Khách du lịch trong nước và quốc tế đến với huyện đảo Cát Hải ngày càng tăng gấp bội nhờ cây cầu vượt biển Tân Vũ dài hơn 16 km (dài nhất nước ta).

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lễ chào cờ tại bến Ngự, Cảng Hải Phòng chiều 20-10-1946 sau khi Người từ Pháp trở về.
Tháng 5, thành phố Cảng bừng nở những chùm phượng đỏ, thắp lên niềm thành kính, tự hào trong tâm mỗi người dân nơi được vinh dự 9 lần đón Bác Hồ về thăm. Còn sống mãi trong ký ức các thế hệ cha, con những tình cảm ấm áp, những chỉ bảo ân tình của vị Cha già dân tộc dành cho thành phố ngay từ chuyến thăm đầu tiên trên cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, sau ngày lập Nước mới được một năm, một tháng – ngày 26-10-1946; và chuyến thăm cuối cùng vào ngày 23-1-1963, cách 6 năm Bác đi vào cõi vĩnh hằng.
74 năm trôi qua, kể từ buổi chiều lịch sử ngày 20-10-1946 ấy, sau 4 tháng 20 ngày, Bác dẫn đầu Đoàn đại biểu Chính phủ ta sang hội đàm với Chính phủ Pháp để tìm phương sách cứu vãn hòa bình. Người trở về nước bằng chiến hạm Đuy-mông Đuyếc-vin của Pháp cập bến Ngự, cảng Hải Phòng. Lịch sử cuộc đời cách mạng của Người có những cột mốc ngẫu nhiên và kỳ thú: ngày 6-5-1911, Bác Hồ rời bến Nhà Rồng ở cảng Sài Gòn, lên chiếc tàu buôn Lan-tu-sơ Trê-vin của Pháp xin làm người phụ bếp, để từ đây có dịp qua các nước phương Tây tìm con đường cứu nước, cứu dân. 35 năm sau đó, Người lại từ nước Pháp về cảng Hải Phòng với cương vị là Chủ tịch nước Việt Nam độc lập.
Nhiều người nghĩ rằng, sau những tháng ngày vời vợi xa nước, Bác cập cảng Hải Phòng sẽ về ngay Thủ đô Hà Nội, trái tim của cả nước, để chỉ đạo, giải quyết những vấn đề nóng bỏng, ngổn ngang của đất nước vừa mới giành được chính quyền một năm, một tháng. Nhưng với tầm nhìn chiến lược và tư duy sâu rộng “mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, Bác quyết định dừng lại Hải Phòng để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng các tầng lớp nhân dân về vận mệnh đất nước. Ít ai có thể ngờ rằng, sau khi lên tàu, Bác về làm việc ngay tại trụ sở Ủy ban Hành chính thành phố (nay là Trường tiểu học Minh Khai, quận Lê Chân). Trong bộn bề công việc quốc gia, Bác vẫn dành thời gian tiếp cụ Thuyết - người bạn cố tri từng cùng Bác làm phụ bếp trên tàu buôn của Pháp 35 năm trước. Cuộc trò chuyện thân tình, cởi mở, bỏ qua mọi nghi lễ xã giao khi Bác nói với cụ Thuyết “cứ gọi tôi là Ba như trước!”. (Biết mắt cụ Thuyết đã mờ, khi về Hà Nội, Bác cho xe đón cụ lên Hà Nội chữa mắt). 5 giờ sáng ngày 21-10, Bác bí mật cho xe đi vòng quanh thành phố và tỏ ý khen ngợi phong trào thể dục, thể thao sôi nổi của Hải Phòng. Suốt trong buổi sáng, Bác dành thời gian tiếp đoàn đại biểu các đoàn thể, các thân hào, thân sĩ, các văn nghệ sĩ ở trong nước và nước ngoài… Người ghi trong sổ vàng của Ban bình dân học vụ: “Ra sức chống giặc dốt cho dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc thông thái”.
Trong cuộc mít tinh của các tầng lớp nhân dân Hải Phòng mừng Bác đi xa trở về, sau khi nghe các đại biểu nói về tình cảm đối với Bác, Người nói đại ý là: Trong 4 tháng 20 ngày xa Tổ quốc đi tìm phương sách giữ nước, đồng bào nhớ tôi và tôi cũng rất nhớ đồng bào. Người khuyên đồng bào miền bể thực hành đời sống mới, ra sức kiến thiết Hải Phòng phát triển mọi mặt. Vậy là, vị lãnh tụ tối cao của Đảng và Nhà nước trong những ngày lao tâm, khổ tứ nơi đất khách, luôn canh cánh trong lòng 6 nhiệm vụ cấp bách của nước nhà, mà phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945 thông qua, trong đó có ba nhiệm vụ “diệt giặc” - đó là “giặc đói”, “giặc dốt” và “giặc ngoại xâm”. Phải chăng, những cuộc trò chuyện, tâm tình với các tầng lớp nhân dân Hải Phòng sau khi phương sách giữ nước qua con đường ngoại giao không đạt được, người càng vững tin vào ý chí đồng lòng của nhân dân cùng Đảng và Chính phủ đẩy mạnh công cuộc kiến thiết và bảo vệ đất nước bằng mọi cách? Và chính với gương mặt nhân từ, giọng nói chân tình, toát lên sự bình tĩnh, lạc quan, tin tưởng vào cách mạng Việt Nam của vị lãnh đạo tối cao, nhân dân Hải Phòng cũng như nhân dân cả nước, đã nhất loạt hưởng ứng “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát đi chỉ sau hai tháng rời Hải Phòng về Hà Nội trên cơ sở suy ngẫm sâu xa về lòng dân và thời cuộc?
Tôi từng tới Hải Phòng nhiều lần, nhưng nay mới có dịp đọc kỹ cuốn Lịch sử Đảng bộ thành phố và ấn phẩm “Hải Phòng làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh” do NXB Hải Phòng ấn hành, lòng trào lên sự xúc động, ngỡ ngàng. Ít có địa phương nào, in dấu chân Người ở nhiều nơi, từ trường học, bệnh viện, nhà máy, bến cảng, doanh trại…, đến hải đảo Cát Bà, Cát Hải, dù thời ấy, việc đi lại còn nhiều cách trở, khó khăn. Thực chất mỗi chuyến thăm là cuộc tìm hiểu tại chỗ tình hình sản xuất, học tập, huấn luyện, chữa bệnh… - những hoạt động chủ yếu tạo nên sức sống của thành phố biển. Với phong cách bình dị, sâu sát thực tiễn, mỗi khi đến thăm đơn vị nào, hầu như việc quan tâm đầu tiên của Bác là nơi ăn, chỗ ở ra sao; sau đó Người mới nghe tình hình mọi mặt. Khi tìm hiểu kỹ các thành phần, đối tượng trong 9 chuyến thăm mà Bác gặp mặt, đối thoại, tôi thật sự sửng sốt khi thấy Người không bỏ sót một đối tượng nào; và trong câu chuyện, Bác đều đưa ra những lời khuyên thân tình, cụ thể. Ngay trong chuyến thăm lần hai vào ngày 2-6-1955, chỉ 20 ngày sau giải phóng thành phố, Bác có những ý kiến chỉ đạo sát hợp với từng đối tượng. Ví như bộ đội và công an phải hết sức cảnh giác, không được chủ quan, khinh địch; phải dựa vào nhân dân để bảo vệ Tổ quốc. Với đồng bào, phải đoàn kết chặt chẽ, thi đua tăng gia sản xuất để khôi phục kinh tế trở lại bình thường. Công nhân phải ra sức thi đua tăng năng suất, giữ gìn máy móc, bảo vệ xí nghiệp, giữ nghiêm kỷ luật lao động. Với nông dân, Bác dặn phải thi đua làm ra nhiều lúa, khoai, rau xanh... để tiếp tế cho thành phố. Với trí thức, cần góp sức xây dựng nền văn hóa của dân tộc ta, đẩy lùi văn hóa trụy lạc của đế quốc. Với thầy thuốc, phải giúp đỡ nhân dân giữ gìn sức khỏe. Với các nhà công thương, cần thi đua kinh doanh, thực hiện đúng chính sách của Chính phủ. Các cháu thanh niên phải xung phong trong mọi việc, sao cho xứng đáng là chủ tương lai của nước nhà. Các cháu nhi đồng cần ngoan ngoãn chăm học, siêng làm. Các cụ phụ lão dạy bảo, khuyến khích con cháu thi đua làm trọn nghĩa vụ. Với thương, bệnh binh, Người khuyên phải nghe theo lời bác sĩ để chữa bệnh mau khỏi. Với chị em làm công tác vệ sinh, Bác nhắc nhở: bất cứ công việc nào ích quốc, lợi dân, có lợi cho xã hội đều là vẻ vang. Đầu năm 1960, khi Hải Phòng đón 922 kiều bào từ Thái Lan về nước, Bác đến thăm Cảng và căn dặn kiều bào: “đã bao năm ở đất khách quê người, nhưng luôn hướng về Tổ quốc, nay về nước vui vẻ cùng đồng bào miền Bắc đồng cam cộng khổ, vượt mọi khó khăn, tích cực tăng gia sản xuất, xây dựng Tổ quốc giàu mạnh…”. Ngày 30-5-1957, nói chuyện với các cán bộ chủ chốt của thành phố, sau khi chỉ ra 3 khuyết điểm chính, Bác căn dặn: cần đặt quyền lợi của Đảng lên trên hết. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết của Đảng. Phải liên hệ mật thiết với nhân dân. Luôn cố gắng học tập, thật thà phê bình, tự phê bình…
Nhiều người xúc động đến rơi lệ khi Bác đến thăm Trường Nhi đồng miền Nam trên đường Lạch Tray, Người lưu ý cán bộ, giáo viên: “Bác thấy có 2, 3 cháu còn đau mắt, các cô, các chú phải tra thuốc cho các cháu mau lành nhé”. Đến thăm Bệnh viện Việt- Tiệp, nhìn hội trường chỉ thấy nam giới, Bác nhắc lãnh đạo phải mời đại diện phụ nữ cùng tham dự. Hầu như buổi gặp mặt với bất cứ thành phần nào, những lời chỉ bảo của Bác, dù biểu dương thành tích hay đề cập thiếu sót, đều để lại những ấn tượng sâu sắc đối với người nghe. Ngày 15-3-1961, đến thăm Nhà máy cơ khí Duyên Hải - đơn vị đi đầu trong các nhà máy lúc đó về phong trào thao diễn kỹ thuật, tăng năng suất lao động (sau này Chính phủ phát động ba phong trào thi đua lớn trên toàn miền Bắc: “gió Đại Phong, sóng Duyên Hải, cờ Ba Nhất” - ba điểm điển hình trong nông nghiệp, công nghiệp và quân đội). Mặc dù nhà máy Duyên Hải có nhiều thành tích như vậy, nhưng khi đến thăm, Bác vẫn phê bình lãnh đạo để nơi nấu gang, làm khuôn chật chội, thiếu ánh sáng, nguyên liệu để bừa bãi. Ngày 18-1-1960, trong chuyến thăm Kiến An, sau khi biểu dương những thành tích trong phong trào sản xuất nông nghiệp, Bác nói: “Đảng viên và cán bộ ta nói chung là trung thành, tận tụy, hăng hái, nhưng một số đảng viên và cán bộ còn có bệnh công thần, suy tị, ỷ lại, tiêu cực, không gương mẫu, đầy chủ nghĩa cá nhân”; rằng “ở một vài nơi có hiện tượng cán bộ tham ô, lãng phí”. Ngày 31-3-1959, trong buổi nói chuyện với hơn 100 cán bộ lãnh đạo các ngành quân, dân, chính, đảng của Hải Phòng, Bác nhấn mạnh: “Công nghiệp Hải Phòng rất quan trọng, quan trọng đối với cả nước”. Bác cũng chỉ ra những yếu kém trong nông nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản. Đối với công tác tuyên giáo, Người nhắc: “Công tác tuyên truyền còn kém lắm. Bác đi qua mấy vùng nông thôn, chỉ thấy dăm ba cái khẩu hiệu. Chú nào làm công tác tuyên truyền phải chú ý điều đó. Phải vận động quần chúng kẻ nhiều khẩu hiệu, phải dùng nhiều thứ tuyên truyền cổ động để thúc đẩy tăng gia sản xuất. Tuyên huấn không làm tốt cái đó thì tuyên cái gì, huấn cái gì?”.
Đáp lại tình cảm và sự quan tâm đặc biệt đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ lãnh đạo và các tầng lớp nhân dân thành phố Hải Phòng luôn đồng tâm, hiệp lực vượt qua mọi gian khó, hy sinh, góp sức tích cực vào công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược thắng lợi.
Tháng 5 về, thành phố náo nức chào mừng kỷ niệm 65 năm thành phố được hoàn toàn giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân Pháp. Cũng trong tháng 5, Hải Phòng cùng cả nước long trọng kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Những nguồn cảm hứng lớn lao đó tiếp thêm sức mạnh với Đảng bộ và người Hải Phòng vượt lên bao khó khăn của đại dịch COVID-19, cùng lúc thực hiện “mục tiêu kép” là vừa ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh, vừa duy trì ổn định đời sống, tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội. Chắc ở nơi “thế giới người hiền”, Bác Hồ sẽ rất vui khi được biết, trong 4 tháng đầu năm 2020, dù trong điều kiện thành phố Hải Phòng phải tập trung công sức và vật chất đối phó dịch bệnh, nhưng tổng sản phẩm trên địa bàn vẫn tăng hơn 14%; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,7% (gấp gần 4 lần cả nước). So với cùng kỳ, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 15,6%; sản lượng hàng hóa qua cảng tăng 1,35%; tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 2,74%... Đời sống của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Dự kiến, năm 2020, thu nhập bình quân đầu người ước đạt 6.196 USD, gấp hơn 2 lần so với 2005 và gấp hai lần so với bình quân chung cả nước…
Đúng dịp kỷ niệm hai sự kiện quan trọng nêu trên, thành phố khánh thành một loạt công trình hạ tầng giao thông, đô thị, trong đó có tuyến cáp treo Cát Hải - Phù Long giai đoạn 1. Cũng trong tháng 5 này, thành phố đồng thời khởi công nhiều công trình, dự án, đặc biệt là Dự án tuyến đường vào và Khu bảo tồn bãi cọc Cao Quỳ ở huyện Thủy Nguyên - một chứng tích lịch sử mang dấu ấn đặc biệt trong 3 lần đại thắng quân xâm lược Nguyên - Mông của dân tộc ta ở thế kỷ 13.
Tưởng nhớ công ơn trời biển của Người, quân và dân Hải Phòng giữ trọn niềm tin son sắt, sát cánh cùng nhau vượt qua mọi trở ngại, khó khăn trước mắt, vững bước đi tới tương lai, xứng đáng với tình yêu thương vô bờ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!
PGS.TS Nguyễn Hồng Vinh