(HPĐT)- Mỗi dịp Quốc khánh 2-9, trong trái tim mỗi người Việt Nam lại trào dâng những cảm xúc thiêng liêng, xúc động, niềm tin kiêu hãnh và lòng tự hào dân tộc. Đây cũng là dịp để mọi người trên khắp đất nước nhớ tới những công lao hy sinh to lớn của các thế hệ cha ông đi trước. Nhớ lại chặng đường lịch sử gian khổ và hào hùng ấy, nhân dân cả nước nói chung, thành phố Cảng nói riêng càng tiếp tục ra sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thành phố phát triển hơn nữa. Nhân dịp này, tiến sĩ sử học ĐOÀN TRƯỜNG SƠN, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử thành phố trò chuyện với Báo Hải Phòng làm rõ hơn ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại của Tuyên ngôn Độc lập cũng như phát huy vai trò, vị thế của thành phố Cảng sau 78 năm đất nước giành được độc lập, tự do.

Cùng cả nước, Hải Phòng đang phát triển mạnh mẽ, bứt phá đi lên. Ảnh: Duy Thính
- Nhắc tới Quốc khánh 2-9 là nhắc tới Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông cho biết ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại của bản tuyên ngôn?
- Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” do chính Người soạn thảo, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của một nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). “Tuyên ngôn Độc lập” là văn bản pháp lý đặt cơ sở khẳng định thiết lập nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, với mục tiêu Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, khơi nguồn sáng tạo và soi sáng con đường cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân. Hơn thế nữa, “Tuyên ngôn Độc lập” còn đóng góp vào sự nghiệp giải phóng nhân loại, là sự mở đầu kỷ nguyên độc lập, tự do của các dân tộc thuộc địa, bị áp bức trên toàn thế giới.
Trong “Tuyên ngôn Độc lập” cần hiểu và lý giải rõ vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bằng những trích dẫn từ hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và Pháp. Trước hết, phải khẳng định, đây là những thành quả văn hoá của nhân loại, là dấu mốc lớn của lịch sử loài người, trong đó, khẳng định những quyền cơ bản của con người: “Quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Trên nền tảng và tiền đề đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, chính cuộc cách mạng mà dân tộc Việt Nam giành được vào Tháng Tám năm 1945 là bước đi tiếp trong sự phát triển của nhân loại, đồng thời là cột mốc cho sự phát triển của lịch sử giải phóng con người của các dân tộc bị áp bức, bóc lột. Đi sâu nghiên cứu hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp, chúng ta thấy cả hai đều đề cao và khẳng định quyền con người: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng”. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Chính sự suy rộng ra ấy thể hiện một tư tưởng lớn, một luận điểm quan trọng có tính vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được trình bày trong “Tuyên ngôn Độc lập” của nước Việt Nam. Đây là một nội dung rất căn bản, có ý nghĩa không chỉ đối với dân tộc ta mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với thời đại.
78 năm trôi qua, những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Tuyên ngôn Độc lập” ngày 2-9-1945, trở thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện lời thề thiêng liêng trong ngày Lễ độc lập: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
- Là người dày công nghiên cứu lịch sử thành phố, theo ông, vai trò, vị thế của Hải Phòng được Trung ương đánh giá như thế nào sau Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9-1945?
- Sau Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9- 1945, thành phố Cảng Hải Phòng có vai trò quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế-văn hóa, là cửa khẩu giao thương quốc tế, trung tâm công nghiệp và có đội ngũ giai cấp công nhân tiêu biểu ở miền Bắc. Do vậy, khi thực hiện âm mưu xâm lược nước ta lần nữa, quân đội Pháp tiếp tục chọn thành phố Hải Phòng làm đầu cầu để tiến về Thủ đô Hà Nội.
- Kể từ giai đoạn “nước sôi, lửa bỏng” ấy đến nay, 78 năm qua, ông thấy sự thay đổi của Hải Phòng như thế nào trong phát huy vai trò, vị thế của mình?
- Có thể khẳng định, kể từ Quốc khánh 2-9-1945 đến nay, trong mỗi giai đoạn lịch sử, thành phố Hải Phòng có vai trò quan trọng khác nhau:
Trong 9 năm (1946-1955) nhân dân ta kháng chiến chống chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, địch đã chọn Cảng Hải Phòng là đầu cầu để vận chuyển, tiếp viện vũ khí, binh lính, hàng hóa cho chiến trường Bắc Việt Nam và Lào. Sau Hiệp định Giơnevơ được ký kết, tháng 9-1954, hội nghị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng khẳng định: “Việc chúng ta tiếp quản được những thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng… khiến chúng ta không những có nông thôn, mà còn có thành thị, đường sắt, cửa biển, vùng công nghiệp… Đó là một biến đổi lớn, ta có đủ điều kiện kiến thiết theo quy mô một quốc gia”.
Thời kỳ xây dựng CNXH và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thành phố Hải Phòng trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại, nơi sáng tạo những phong trào thi đua yêu nước; “pháo đài thép” bên bờ biển Đông, đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa của đế quốc Mỹ, tiếp nhận viện trợ hàng hóa, vũ khí và vận chuyển đi khắp các địa phương, vào miền Nam thông qua các tuyến đường sắt, bộ, thủy và Đường Hồ Chí Minh trên biển vào chiến trường miền Nam.
Sau ngày đất nước thống nhất, thành phố Hải Phòng có vị thế mới, là trung tâm kinh tế, cửa ra biển lớn nhất của khu vực phía Bắc. Hải Phòng tiếp tục là địa phương có nhiều sáng tạo trong phát triển kinh tế. Tiêu biểu là sáng tạo cơ chế khoán mới, góp phần thay đổi nền nông nghiệp của cả nước. Từ khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Hải Phòng trở thành một trong những động lực kinh tế của miền Bắc. Tuy nhiên, cũng có giai đoạn thành phố phát triển chậm, có phần trì trệ so với các địa phương khác, chưa bắt kịp xu thế chung. Bước sang thế kỷ 21, nhất là gần chục năm trở lại đây, Hải Phòng có sức bật mới, có sự đột phá trên tất cả lĩnh vực. Cụ thể, mở rộng phát triển không gian đô thị theo 3 hướng; quy mô kinh tế phát triển lớn, là một trong những địa phương tóp đầu của cả nước về tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách. Đô thị của thành phố được mở mang, diện mạo nông nghiệp, nông thôn có sự thay đổi tích cực. Các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, an sinh xã hội được quan tâm đầu tư. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao...
- Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9 và các kết quả đạt được, để thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra theo tinh thần Nghị quyết số 45 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội 16 Đảng bộ thành phố, theo ông, Hải Phòng cần thực hiện những giải pháp nào?
- Hiện, toàn Đảng, toàn dân đang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới toàn diện trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực còn nhiều diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức. Thực hiện các Nghị quyết của Trung ương và thành phố, khẳng định rõ vị thế, vai trò của Hải Phòng mà Trung ương đã đánh giá ngay sau Quốc khánh năm 1945, đồng thời tận dụng, phát huy tốt nhất thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, toàn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố cần đoàn kết một lòng với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phấn đấu sớm đưa Hải Phòng trở thành thành phố đi đầu cả nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
Muốn vậy, trước hết lãnh đạo thành phố chủ động, năng động trong tư duy chiến lược phát triển thành phố; tâm huyết, có quyết tâm, khát vọng phát triển quê hương, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Mặt khác, toàn Đảng, toàn dân quyết tâm phát huy sức mạnh nội lực, không ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ Trung ương mà chủ động tìm kiếm các nguồn lực, khơi thông các điểm nghẽn, đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội thành phố, tạo dựng nền tảng vững chắc để phát triển thành phố trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.
- Trân trọng cảm ơn ông!
Đông Hải (thực hiện)