Các cơ sở y tế có trách nhiệm bảo đảm an toàn, an ninh thông tin của hệ thống mã định danh y tế (ảnh minh họa).
Theo đó, mã định danh y tế gồm 10 ký tự số, là số định danh cá nhân của người tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) theo quy định tại Quyết định số 1263 ngày 21-11-2014 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam ban hành và quy định quản lý, sử dụng hệ thống danh mục dùng chung, chỉ tiêu báo cáo ngành BHXH. Bộ dữ liệu thông tin định danh gồm: Mã số BHXH, họ tên, ngày sinh, giới tính, mã tỉnh/huyện/xã nơi đăng ký khai sinh, mã thẻ BHYT (nếu người dân có tham gia BHYT). Mã định danh y tế có những đặc tính cơ bản như: Luôn trong trạng thái sẵn sàng để các cơ sở y tế có thể truy vấn, sử dụng; có khả năng xác định danh tính của cá nhân gắn liền với mã định danh hợp lệ; có thể được sử dụng kết hợp các thông tin khác để tạo ra mã liên kết các hồ sơ y tế trên các hệ thống thông tin khác nhau; có khả năng tạo liên kết và kiểm tra tính hợp lệ của mã định danh.
Về cấu trúc, mã định danh y tế gồm dãy các ký tự, được chia thành 3 phần “XXXXXXXXXX . xxxxxxxxxx”. Trong đó, mười ký tự đầu của dãy số là số BHXH của cá nhân tham gia BHXH. Ký tự thứ mười một là dấu phân cách giữa hai dãy số thể hiện là dấu “.”, dùng để xử lý các công nghệ không có định hướng. Và dãy ký tự sau cùng được sử dụng để bảo đảm định danh hợp lệ. Những ký tự này dựa trên những thông tin cơ bản như: số BHXH, họ và tên, năm sinh, giới tính, nơi sinh). Các ký tự từ thứ mười một đến cuối sẽ được làm mờ đi và chỉ được dùng để kiểm tra tính hợp lệ trên hệ thống cấp mã định danh y tế.
Theo quy chế mới ban hành, trên cơ sở mã số BHXH và thông tin hành chính của người dân, hệ thống mã định danh y tế của Bộ Y tế sẽ tự động xác lập ID của người dân. Mỗi cơ sở y tế được cấp một tài khoản và mật khẩu dùng để truy xuất dữ liệu trên hệ thống mã định danh y tế quốc gia. Các cơ sở y tế trên toàn quốc kết nối hệ thống mã định danh y tế quốc gia để được cấp tự động ID của người bệnh. Trường hợp cơ sở y tế không kết nối hệ thống mã định danh y tế quốc gia, cán bộ y tế truy cập vào trang thông tin của hệ thống mã định danh y tế quốc gia để tra cứu ID của người dân. Ngoài ra, các cơ sở y tế sử dụng ID được cấp trong việc tạo lập, liên kết các hồ sơ y tế trên các hệ thống thông tin y tế. Trong quá trình sử dụng và quản lý mã định danh y tế, các cơ sở y tế có trách nhiệm tuân thủ quy định về bảo đảm an toàn, an ninh thông tin của cả hệ thống mã định danh y tế quốc gia và ID của từng người bệnh.
Đối với việc quản lý ID, theo Quy chế, ID được lưu trữ, quản lý tại hệ thống mã định danh y tế quốc gia đặt tại trung tâm dữ liệu y tế thuộc Cục Công nghệ thông tin (Bộ Y tế). Các cơ sở y tế có trách nhiệm quản lý ID được cấp. Hệ thống mã định danh y tế quốc gia định kỳ đồng bộ dữ liệu với cơ sở dữ liệu hộ gia đình tham gia bảo hiểm xã hội của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Tư An (tổng hợp)