Mộng thám hoa

28/08/2017 17:31

Nhà văn Nguyễn Đình Tú

Minh họa: Đặng Tiến

Thuân bị hút tới đây bởi hấp lực không thể cưỡng. Màn đêm hoang ảo muôn vàn chớp sáng li ti. Giữa nền âm thanh ếch nhái âm u vọng lên giọng ngâm văng vẳng. Trạch đắc long xà địa khả cư… Dã tình chung nhật lạc vô dư…

Có ai ở đây không? Thuân kêu lên hốt hoảng. Tiếng ngâm ngưng bặt. Màn đêm khẽ lay. Mờ mờ hiện hình một người cổ sử. Tóc tó củ hành. Áo the. Khăn đóng. Chân guốc mộc khoan thai. Một tay quạt nan phe phẩy. Một tay xách chiếc đèn chai tỏa ra thứ ánh sáng xanh lét.

Toàn thân Thuân lạnh buốt như bị dìm trong nước đá. Chạy. Nhưng hai chân quíu lại. Hàm cứng ngắc. Thuân lập bập:

- A… a… ai?

Cụ già cúi nhìn Thuân cười hiền:

- Anh không nhận ra ư? Chúng ta chơi với nhau từ nhỏ, ngày anh còn tóc chỏm đào.

- Lạy hồn! Cụ như người của ngàn năm, làm sao con có thể?

- Thế mà có đấy. Anh nhìn kỹ đi!

Cụ già giơ đèn lên cao. Thuân dán mắt nhìn và rởn toàn thân. Trong chai là hàng ngàn con đom đóm lập lòe.

- Mặt cụ… quen lắm! Nhưng con... không nhớ...

- Khà khà! Cậu bé làng Bùi, kẻ dám cả gan trèo lên bệ thờ…

Một cú điểm huyệt. Trí nhớ Thuân thức dậy. Cậu bé mười ba tuổi trốn học cùng lũ bạn vào đình chơi. Mái đình cuồn cuộn rồng mây. Cổng đình uy nghi đôi voi chiến. Bậc tam cấp lớp lớp nghê phục, ngựa chầu. Cột đình gỗ lim sừng sững. Kèo vẳng long ly quy phượng múa vờn. Trên bệ thờ hai bức tượng mặt đỏ như say, mắt xếch dữ tợn, râu buông ria vểnh đen sì, chung quanh bày la liệt những loại vũ khí sơn son thếp vàng lóa mắt. Đấy là hai vị tướng Nghĩa quân Lam Sơn chỉ huy trận đánh chém năm vạn đầu quân xâm lược trên cánh đồng làng Bùi nên được tôn làm Thành hoàng. Thuân nín thở... Rón rén vào trong... Trống ngực ình ình. Và Thuân giật bắn. Từ một tia nắng le lói từ mái thủng, Thuân thấy một người nằm ngửa trên bệ. Suýt nữa thì Thuân ù té chạy. Nhưng Thuân kịp định thần. Không phải người. Một bức tượng ngã!

Thuân nhiều lần hỏi người lớn “ông phật trong chùa ấy” là ai, nhưng không có câu trả lời. Mãi về sau, một thầy giáo già giỏi chữ Nho mới thầm thì cho Thuân biết, pho tượng ấy không phải phật. Và nơi ấy cũng không phải chùa.

- Trời ơi, chả lẽ ngài là… Đặng Thám hoa? Xin ngài tha tội… Tại ngày đó con chưa biết ngài là ai nên mới phạm thượng…

- Hôm ấy anh có làm gì ta đâu?

Thuân thở phào như trút được án tử:

- Vậy ngài bắt con đến đây làm gì?

Cụ già ngửa cổ cười:

- Sao lại nói là bắt? Ta và anh có duyên. Hữu duyên thiên niên ngộ… Ta đã đọc bài viết của anh về ta.

Thuân dựng hết tóc gáy. Trời ơi, bài viết Thuân chưa hoàn thành, còn nằm trong máy tính mà sao…?

*

Kỳ thi đình năm Đinh Mùi - 1247, sau khi bảng vàng được yết, vua Trần Thái Tông cho vời ba vị tam nguyên vào bái kiến tại điện Tập Hiền. Trạng nguyên Nguyễn Hiền mười hai, Bảng nhãn Lê Văn Hưu mười bảy và Thám hoa Đặng Ma La tròn mười ba tuổi. Mặt rồng rạng rỡ. Nhân tài xuất hiện nhiều và sớm thế này lo gì xã tắc không vững bền, giang sơn không cường thịnh.

Sau tiệc yến, vua giữ riêng Đặng Ma La lại. Bởi tiếng đồn về cậu lan tới kinh thành trước kỳ thi. Đặng Thị Tiêu, một phụ nữ nhan sắc không biết dạt ở đâu đến làng Bùi xin ngụ cư. Một đêm đang mò cua dưới ruộng, thấy khu Gò La có ánh đèn và tiếng người đọc sách, bà lội đến xem thì ánh đèn và tiếng người biến mất. Một cơn gió lạ nhập vào khiến bà rùng mình. Bà mang thai và sinh ra đứa bé mặt mũi khác thường, bèn đặt tên là Ma La. Là con của ma nên không cần học mà năm tuổi Ma La làu thông kinh sử, văn chương xuất chúng, được coi là thần đồng phục sinh... Lúc nghe được chuyện này vua bật cười.

“Thám hoa con ai?”, vua hỏi sau một lát ngắm nghía dung mạo Ma La.

Cậu bé vòng tay cung kính:

“Thưa bệ hạ! Thần không biết cha là ai. Thần chỉ có mẹ. Mẹ thần làm nghề bắt cua.”

Vua lại hỏi:

“Ta nghe nói ngươi không cần học mà tự nhiên tài?”

Ma La vội vàng đáp:

“Thưa không phải thế! Thần được như ngày hôm nay là nhờ có thầy truyền dạy.”

Mắt rồng ánh lên tia tươi vui. Mừng là Ma La không vơ lấy tấm áo khói sương hoang đường huyền hoặc để che đậy phận mình…

*

- Bài viết của anh dừng ở đấy. Đã mười năm rồi mà anh không viết tiếp?

Cụ già ấp quạt vào ngực hỏi. Thuân ấp úng chưa biết trả lời sao. Quả tình nhiều lần Thuân mở file bài viết đó toan hoàn thành, nhưng câu chuyện lưu truyền trong làng khiến anh nguội hết cảm xúc.

Ngày Thám hoa vinh quy, chức dịch làng Bùi không thèm đón. Trời mùa đông mưa phùn gió bấc căm căm, đường làng ngập ngụa bùn lẫn phân trâu, kiệu rước không thể vào làng. Quá tự ái, ngay chiều đó Thám hoa đưa mẹ rời đi. Khi bước qua cổng làng ngài đã quay lại đanh mặt nghiến răng hạ một lời nguyền: “Kể từ nay trở đi làng Bùi sẽ không có người đỗ đạt!”…

Từ ngày biết đọc sách, Thuân vẫn mặc định những người đỗ đại khoa hẳn nhiên phải là những bậc đại trượng phu. Vậy mà hành xử của Thám hoa họ Đặng xem ra không giống người quân tử…

- Anh đang nghĩ tôi là kẻ tiểu nhân, đúng không?

Thuân giật bẵng mình:

- Dạ… con đâu dám. Con…

Cụ già thủng thẳng cất lời sau cái cười thanh thoát:

- Không giống người quân tử với kẻ tiểu nhân nào khác chi nhau. Khá khen anh là người giỏi uyển ngữ ngay cả trong ý nghĩ.

Thuân sợ đến ngọng líu:

- Tại... tại... người ta đồn thế…

Cụ già lại cười vang:

- Và anh tin?

Thuân ắc ê mãi không thể trả lời. Cụ già nheo mắt nhìn Thuân:

- Vậy anh xem lời đồn và sự thực có giống nhau không nhé!

Cụ già phất nhẹ quạt nan. Màn sương trước mắt Thuân tan loãng…

Từ lộ phủ, đoàn rước rẽ xuống con đường mảnh dẻ nổi mấp mé giữa đồng chiêm trũng. Bóng cờ bóng lọng nhòa vào nước trắng, lẫn vào lau sậy loi thoi.

Đoàn rước về đến gần làng. Tiếng loa báo hiệu vọng vang. Cậu bé trên kiệu sửa lại cân đai, nét mặt hân hoan.

Cổng làng lặng ngắt.

Chỉ lão thầy đồ đứng đợi.

Cậu bé nhảy khỏi kiệu, mặt mày hớn hở, hai tay xếch phẩm phục lên quá gối chạy ào ào về phía thầy hét toáng:

“Thầy ơi…! Con… đã… đỗ rồi!”

Thầy đồ nghiêm mặt:

“Đừng có hoắng!”

Cậu bé đứng ngây. Thầy đồ tiến đến đoàn rước. Sau vài câu nói nhỏ, lính cờ lính kiệu quay đầu.

Thầy nhận gói đồ từ đoàn rước trao lại cho trò:

“Im lặng mà về!”

Cậu bé hơi phụng phịu nhưng nét mặt vẫn tươi roi rói. Cậu khoanh tay chào thầy rồi khoác đãy lên vai, tụt hia lội băng lối tắt. Về đến Gò La cậu cất tiếng gọi mẹ. Không có tiếng đáp. Cậu kéo cửa phên chui vào lều và sững người. Trong ổ rơm, mẹ cậu âm thầm nằm khóc.

Cậu nhào đến lay mẹ. Những câu hỏi dập dồn gắt gỏng.

“Tại sao mẹ không ra đón con?”

...

“Tại sao làng không có ai đón con?”

...

“Tại sao làng không làm nhà mới cho mẹ con ta?”

...

Người mẹ ôm mặt khóc òa.

Cậu bé ngồi phệt xuống đất thẫn thờ:

“Chiếu khuyến học vua ban, hương ước làng ghi rõ, người đỗ đại khoa khi vinh quy được làng đón rước, được làng dựng nhà mới kia mà...”

Người mẹ nấc lên:

“Mẹ biết. Mẹ trình với làng ngay lúc nghe tin con đỗ. Nhưng con ơi! Họ nói rằng mẹ con ta là dân bạ cư, không có tên trong sổ địa tịch, làng không có trách nhiệm.”

Cậu bé bật dậy hét:

“Họ dám trái mệnh vua! Con sẽ tâu lên để chém đầu!”

Người mẹ vội vã túm lấy tay con:

“Ấy ấy con ơi! Phép vua thua lệ làng. Con còn nhỏ lắm, chưa hiểu hết sự đời đâu.”

Môi cậu bé mím chặt. Mắt cậu bé vằn lên.

Gió đồng chiều hơ hoải.

Mặt trời lặn vào bùn nước tím bầm...

“Mẹ ơi… Bây giờ thì mẹ… cho con biết cha con là ai rồi chứ?”

Cậu bé mở lời sau quãng dài im lặng. Người mẹ nhắm mắt nhè nhẹ lắc đầu.

Cậu bé ngửa cổ nhìn trời cất lời ai oán:

“Không có cha... Không có nhà... Con biết bái tổ ở đâu bây giờ?”

Người mẹ ngồi thẳng dậy, đưa hai bàn tay sứt sẹo vén tóc, giọng đột ngột nghiêm trang:

“Con sinh ra từ Gò La. Cánh đồng đã nuôi mẹ con ta. Vậy con còn muốn tìm nơi nào khác?”

Làng Bùi sáng sớm. Những thân cau cao vút trên những mái lá lè tè. Cậu bé quần áo nhuộm bùn khuôn mặt sáng láng đi từng nhà chào hỏi. Ai cũng tỏ ra vui mừng, nhưng không ai chịu nhận quà. Cậu bé chau mày khó hiểu.

Khó hiểu hơn là những bạn đồng môn. Sau khi cùng nhau chen chúc kiễng chân ngó kim bảng tại trường thi, họ lầm lì ra về. Biết các bạn buồn, cậu đến từng nhà tặng quà an ủi và động viên họ tiếp tục dùi mài kinh sử đợi khóa thi sau. Nhưng đáp lại cậu là những nụ cười cố tỏ ra vồn vã ấm nồng, những lời chúc mừng cố tỏ ra chân thành mà ánh mắt lại tối rầm băng giá.

Ngày được thầy đồ cho nhập học, Ma La mới năm tuổi. Dù được thầy khen là sáng dạ hơn người nhưng cậu vẫn luôn lễ phép với những đồng môn lớn tuổi. Suốt bảy năm học chung và cả lúc cùng nhau lên kinh ứng thí, anh em vẫn cười đùa vui vẻ trêu chọc nhau. Vậy mà chỉ sau mấy tháng, họ thành những con người khác.

“Thưa thầy, con có lỗi gì?”

Sau khi làm lễ tạ ơn thầy, Ma La cất giọng hỏi. Thầy vội kéo trò vào chõng hỏi han về những ngày cậu được vua lưu lại kinh thành. Nét mặt thầy vui sáng ngời ngời, chòm râu bạc rung rinh.

“Thưa thầy, con có lỗi gì?”

Nghe câu hỏi lần thứ hai thầy đồ mới thong thả buông lời:

“Con có lỗi là… thi đỗ, trong khi bao cậu ấm con nhà máu mặt trong lộ trong làng trượt hết.”

“Con không hiểu?”

“Con làm sao hiểu được cái lý của những người lười học chăm ăn, đầu rỗng chữ nghĩa, bụng đầy xôi thịt, nhưng lại luôn nuôi mộng ông nghè.”

“Thưa thầy, con chỉ vì thương mẹ, thương cảnh nhà nghèo khó mà quyết chí học hành tiến thân, chứ nào muốn hơn thua với ai đâu?”

“Ừ… Chữ thánh hiền thầy dạy con. Nhưng còn thói đời…, thầy chưa kịp dạy.”

Câu nói của thầy làm Ma La bất giác nhớ tới lời vua: “Khanh tuy đỗ cao, nhưng đó mới là những kiến thức trong sách vở. Ta cho khanh về quê tu dưỡng. Gắng học thêm, cả trong trường học lẫn trường đời.” Ma La nhắm mắt. Hai giọt nước trong vắt sương mai ứa ra. “Ôi bệ hạ tôn kính, bài học trường đời đầu tiên mà con phải nhận cay đắng thế này sao?”

“Bây giờ Thám hoa định thế nào?”

Thầy đồ bất ngờ chuyển lối xưng hô.

“Xin thầy đừng gọi con thế! Con vẫn chỉ là đứa trò nhỏ, mong được thầy tiếp tục dạy dỗ!”

Thầy đồ ngửa mặt nhìn lên mái tranh, thở dài. Tiếng thạch sùng tắc lưỡi cảm thương.

“Ta không còn cơ hội ấy nữa rồi. Ta phải rời làng.”

Ma La giật mình đánh thót:

“Thưa thầy, tại sao?”

Thầy đồ lắc đầu, ánh mắt buồn thê thiết. Vừa lúc đó, có tiếng gậy đập vào cánh cổng roàng roạc cùng tiếng hét vu vơ: “Bắt hết! Bắt hết giải lên quan!”

Ma La nhìn thầy ngơ ngác. Thầy đồ nhìn ra cười khẩy:

“Làng đang đồn ầm lên rằng, con là con của người đang bị truy nã.”

Câu nói như nhát búa táng thẳng vào đầu Ma La. Nét hoang mang hiện rõ trên nét mặt thơ ngây:

“Thế... thế sao ngày trước ai cũng nói con là con ma?”

“Vô danh thì bảo con ma, hữu danh thì buộc phải ra con người!”

Ma La chưa kịp hiểu câu nói của thầy thì ngoài ngõ vóng lên tiếng trẻ con:

Thầy đồ thầy điếc

Thầy liếc giỏ cua

Thầy khua giỏ cá

Học trò trượt cả

Đỗ mỗi một thằng

Lằng nhà lằng nhằng…

Ma La đỏ bừng mặt toan đứng lên, nhưng thầy đồ giơ tay ngăn lại:

“Kệ chúng. Chúng bị người lớn xui thôi mà. Đấy con xem. Ta đi không phải vì sợ. Mà vì đất này không còn ai dám theo học ta nữa. Làm thầy mà không có trò thì dạy ai?”

Ma La ngồi thừ nghĩ ngợi hồi lâu rồi ngẩng lên ướm hỏi:

“Thầy đi rồi, mai đây con sống làm sao?”

“Con sẽ phải chịu đau khổ. Nhưng dù thế nào con cũng phải sống cho ra người tử tế!”

Hai mẹ con ì ọp trên mảnh ruộng ngập phèn của nhà xã quan. Mồ hôi tràn mắt Ma La buốt xót. Bàn tay vỡ nát, máu trộn nước đỏ lòm. Ngực và bụng quặn thắt. Mặc, Ma La nghiến răng vung cuốc. Năn lác lộn nhào.

Đám mục đồng cưỡi trâu cạnh đó nghêu ngao:

Thám hoa thám hoét

Taytoét tòe loe

Chân vàng khè khè

Mắt hoẳm hoằm hoăm.

Ma La bỏ ngoài tai. Trong đầu chàng chỉ vang vang những câu chữ trong cuốn sách đọc đêm qua. Sau bụi tre bìa làng có người đứng sờ cằm nhìn ra cánh đồng nở nụ cười đắc chí:

“Trước sau cũng chết thôi con ạ!”

Cung Quan triều. Trần Thái Tông đọc những mật tấu suốt từ giờ Mùi đến giờ Thân chưa ngơi. Quan thị vệ lấp ló sau rèm mấy bận định tâu chuyện gì, nhưng thấy nét mặt vua căng thẳng, lại thôi.

Trời ngả tối. Vua sai người thắp thêm đèn.

Đợi lúc vua nhắm mắt dưỡng thần, quan thị vệ bước ra rụt rè tâu:

“Bẩm, đã đưa được Đặng Ma La về từ chiều, nhưng...”

Vua bừng mắt, truyền cho vào.

Người thanh niên cao lớn, mặt mày rám nắng, đôi mắt trũng sâu bước vào quỳ trước mặt vua:

“Bẩm, thần bị đường đột đưa về kinh, trong lòng hoang mang không biết có chuyện gì?”

Thái Tông nheo mắt nhìn Ma La rồi đứng dậy tự tay mở khóa hòm công văn lấy ra ba tờ giấy đặc chữ. Ngài nghiêm giọng “Ngươi nghe đây!” rồi đọc to:

Chúng thần là dân thường làng Bùi thấy có điều khả nghi nên muốn tố giác lên bệ hạ. Mụ Tiêu từ nơi xa về xin ngụ cư. Làng sơ suất không tra xét kỹ. Mụ Tiêu đẻ ra con trai mặt mũi sáng sủa, học giỏi khác người nên thần dân lấy làm nghi ngờ. Con nhà dân đen làm sao học hành giỏi vậy? Chúng thần dò hỏi nhiều nơi và biết cha của Ma La là tên quan lớn triều Lý đang trốn truy nã. Lại nữa. Thầy đồ dạy Ma La lại không nhận tiền, chỉ nhận mớ cua mớ tép thay công. Chúng thần ngờ rằng hắn được tên quan kia sai về dạy dỗ Ma La thành tài để mong phục hận sau này. Kính mong bệ hạ ra tay để trừ hậu họa…

Mặt Ma La biến sắc, mồ hôi túa ướt đầm khăn đội. Sau cơn choáng váng, Ma La ngẩng mặt lên:

“Thưa… bệ hạ có tin thần là hậu duệ nhà Lý không?”

Trần Thái Tông phẩy tay cho Ma La bình thân rồi hạ giọng:

“Khanh là con ai thì cũng đều là con dân Đại Việt.”

Ma La thở trút ra hơi nhẹ nhõm. Vua nhìn Ma La nói chắc từng câu:

“Những lá đơn này ta nhận được từ bảy năm về trước, ngay sau khi khanh đăng quang ít ngày. Chúng nặc danh. Nhưng ta biết không ai khác ngoài đồng môn của khanh.”

Đọc những lá đơn vua trao, Ma La ngồi đờ đẫn không thể mở lời. Chỉ cần liếc qua nét chữ rối như cua bò cùng những câu văn lủng củng, chàng nhận ra tác giả là ai rồi. Bao nhiêu năm tháng đắng cay của mẹ con chàng ở làng Bùi cùng lúc hiện về. Những dọa nạt o ép, những chế diễu dèm pha, sự e ngại xa lánh của xóm làng... Ở cảnh cô đơn cùng cực có lúc chàng nuôi ý nghĩ điên cuồng: Khi nào có quyền ta sẽ giết hết tụi bay!

“Thám hoa biết những kẻ âm mưu hãm hại người tài của trẫm là ai rồi chứ? Nói tên chúng ra để ta bắt về trị tội!”

Vua vừa dứt lời đã thấy hàng lính nai nịt gọn gàng, gươm đao tề chỉnh bước vào đợi lệnh.

Đột ngột Ma La run bắn. Chàng vội quỳ xuống:

“Đội ơn bệ hạ. Thần đã biết. Nhưng thần trộm nghĩ, đây là việc riêng của thần. Bệ hạ lấy phép công giải quyết tình riêng, e rằng thiên hạ không phục. Cúi xin bệ hạ ban phép cho thần được tự quyết vụ này!”

Vua gật đầu nhè nhẹ:

“Ta cho phép. Vậy Thám hoa xử chúng cách nào?”

Ma La đứng lên :

“Thưa bệ hạ, những kẻ này thật đáng thương!”

Nói rồi chàng đưa cả ba lá đơn vào đĩa đèn. Lửa bùng lên. Nét mặt chàng sáng rực. Vua reo to:

“Thám hoa trưởng thành rồi!”

Tự tay rót rượu quý ban thưởng cho Ma La xong, vua hỏi dò:

“Ta muốn trao cho khanh chức Tri thẩm hình viện sự, ý Thám hoa thế nào?”

“Bẩm, thẩm hình là việc quan trọng, không biết sức thần có kham được không.”

“Đúng. Án từ ở Thẩm hình viện rất bộn bề, cần người công tâm, sáng suốt. Qua việc vừa rồi ta nghĩ khanh xứng đáng. Khanh đừng phụ lòng của trẫm!”

*

Thuân bừng ngộ. Vậy là không có chuyện lời nguyền. Đầu Thuân ong ong lời cụ giáo già... Làm gì có chuyện đó... Ta tự trấn yểm ta bằng thói tật mà thôi... Sau Đặng Ma La, sự học làng Bùi đứt mạch. Sáu trăm năm. Nhờ chiếu khuyến học vua Minh Mạng, người khai hoa sự học làng Bùi được nhớ. Văn chỉ được xây... Sự học le lói trở lại. Nhưng rồi...

Hơi thở cụ giáo dài sười sượi. Nơi nào tôn vinh học vấn, người nơi đó tính tình nhu thuận, trẻ em hiếu học ham làm, xóm làng trù phú; nơi đâu xiển dương võ công, người ở đó tính cách hung hăng, trẻ em ngỗ nghịch, lười học ham chơi, ruộng đồng xơ xác.

Thuân nghĩ, làng bạc đãi nhân tài, ngài bỏ đi là phải...

Một tia chớp lóe, cụ già lại hiện ngay trước mắt Thuân:

- Anh nhầm! Kẻ nào lấy được làng ra khỏi ta?

Thuân cứng họng không thể trả lời. Tiếng cụ già buồn như lá rụng:

- Ta đã nguyện rằng, khi đánh tan giặc Nguyên Mông lần hai sẽ xin vua cho hồi hưu về làng Bùi mở trường dạy học. Tiếc là việc lớn chưa xong thì đất đã gọi ta về... Ta đành gửi xác quê người, nhưng hồn ta thì…

Thuân nghĩ… À, chắc ngài đang hân hưởng sự cầu cúng quanh năm trong mấy ngôi đền lớn khắp mấy tỉnh vùng duyên hải...

- Anh lại nhầm! Ta không ở những nơi bóng lộng ấy đâu...

Thuân bối rối:

- Vậy chứ… ngài đang ở đâu?

Cụ già cúi xuống trở cán quạt gõ khẽ vào trán Thuân:

- Vậy chứ anh đang ở đâu?

Thuân đớ người. Cụ già phẩy nhẹ quạt. Một làn gió phả vào mặt Thuân mát rượi. Màn hư ảo tan nhanh. Thuân nhận ra mình đang nằm trong một chiếc lều rạ giữa Gò La. Ngúc ngắc đầu nhìn ra Thuân thấy bóng một phụ nữ đang lúi húi trong sương chiều. Mụn vá trên vai áo nâu thấp thoáng giữa cánh đồng xanh vắng…

Truyện ngắn của Đỗ Tiến Thụy

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Mộng thám hoa