(HPĐT)- Tôi thích từng điệu bộ, từng cách hát của từng nhân vật. Thích cả cái người không bao giờ ra sân khấu mà lại đóng vai trò rất quan trong cho gánh hát, đó là người nhắc tuồng. Hầu như không con hát nào thuộc tuồng, đều phải nhờ vào người nhắc tuồng cả. Ở tuổi đó tôi chưa biết cái đẹp, cái hay trong tuồng bắt nguồn từ đâu nhưng tôi vẫn mê xem hát tuồng. Ba tôi hay đóng vai Thái sư. Tôi vẫn còn nhớ như in khuôn mặt ba tôi được vẽ đỏ, chân mày xếch ngược đen sì, hai mắt to, liếc ngang liếc dọc, đúng kiểu một vai chuyên nịnh nọt.

Biểu diễn hát bội tại Quảng Nam. Ảnh: Phan Xuân Hiền
Gánh hát của thôn lúc ấy chỉ có khoảng 20 người, có khi một người phải đóng hai vai. Mỗi gánh hát luôn có một người làm “đạo diễn” gọi là thầy tuồng. Thầy tuồng không hề được hưởng “cát-xê”, mà hoàn toàn mang tính chất phục vụ, đam mê là chính. Họ tập luyện từng đêm rồi diễn cho bà con trong thôn xóm xem. Nếu có điều kiện, rảnh rỗi theo mùa vụ thì mang gánh hát sang các làng bên, xã khác để biểu diễn phục vụ.
Gánh hát bội của ba tôi thường tập luyện tích cực chừng hai, ba tháng trước Tết. Bà con vừa thu hoạch mùa màng, chuẩn bị nhiều món đón Tết nhưng không quên đi tập dượt vào buổi tối. Trẻ con như tôi lúc đó đóng các vai “nhí”, thường là vai con, vai cháu, các anh chị lớn hơn thì đóng đào, kép chính. Người có dáng oai phong to con thì đóng vai vua, các cô xinh đẹp chọn đóng vai hoàng hậu, các cụ đóng vai ông Tiên, ông Bụt, còn ba tôi luôn đóng vai Thái sư có điệu cười đặc biệt. Đây là vai phản diện, hay nịnh, dáng đi, giọng hát của ba tôi rất hợp với vai này. Mỗi khi ra sân khấu ba tôi luôn nhận được những tràng vỗ tay của khán giả. Một số người không có giọng hát tốt thì đóng vai quân lính, hay đánh trống, gõ chiêng, hoặc nhắc tuồng.
Vừa đi học trường làng vào ban ngày, ban đêm tôi và em trai (nhạc sĩ Trần Quế Sơn) lẽo đẽo theo ba tôi xuống nhà cô Ba Ngọ, nơi cả gánh hát tập trung tới đó tập luyện. Nhà tôi cách chỗ tập hơn cây số, mỗi khi đi phải thắp đuốc vượt qua cánh đồng đầy bùn đất. Ấy thế mà ba tôi và các cô chú trong xóm không vắng buổi nào. Dưới ánh đèn dầu le lói, những làn điệu Nam Đi, Nam Lụy, Xuân Nữ, Nói Lối vẫn vang lên thật hay và đầy màu sắc. Giọng của cô Ba Ngọ thanh thoát, dịu dàng với những vai nữ trung. Ông Già Nhâm đóng vai quan công nhìn oai phong lẫm liệt. Giọng Ông Nghè đóng vai tướng cướp hừng hừng hung dữ. Anh cả Tú, đóng vai hề luôn làm cho mọi người cười tức bụng. Anh Tứ đẹp trai và có giọng hát hay thì đóng cặp đôi đào kép yêu nhau với chị Sáu. Tập hết tuồng này đến tuồng khác. Tuồng dài, chép bằng tay, và luôn có một người đứng trong cánh gà nhắc tuồng.
Ngày mồng 4 Tết hằng năm thường là ngày hội của bà con vì buổi tối được xem ca bộ. Cả làng thắp đuốc sáng trưng. Sân khấu được làm trước đó mấy ngày, trống chầu, trống tiến, chiêng… được bố trí sẵn. Thuê đồ hát bội về phát cho từng vai, ai đóng vai nào thì tự mình tìm hiểu và biết cách hóa trang cho vai ấy.
Người đi trước dạy cho người đi sau, ai khéo tay thì “vẽ mặt” cho người không biết vẽ. Để có được đêm diễn tuồng các “diễn viên” phải tập trung từ chiều, lo hóa trang có khi quên cả ăn tối. Ấy thế mà ai cũng vui. Khán giả là người vui nhất. Nam nữ thanh niên có dịp gặp gỡ hẹn hò, còn ông bà già có dịp thưởng thức tuồng tích, trẻ con thì hân hoan xem hết tuồng tới khuya mà không hề buồn ngủ. Trong không khí vui xuân chơi Tết, mọi người dắt tay nhau đến thưởng thức đêm ca bộ, vừa ăn bánh ít, bánh khô, vừa khóc cười cùng lời ca điệu múa, gương mặt ai cũng vui tươi, rạng rỡ.
Cái lần tôi được đóng vai Nghi Xuân - Tấn Lực cùng em trai mình trong tuồng “Phạm Công Cúc Hoa” là một kỷ niệm đẹp mà tôi không thể nào quên. Khi đó tôi 7 tuổi Tuồng diễn vào tối mồng 4 Tết. Tôi như hóa thân vào vai, hát thật hay, làm bà con ngồi xem cũng khóc theo mình. Hai chị em Nghi Xuân, Tấn Lực xách cái nón cời đi ăn xin, tiếng hát của tôi và Sơn trong điệu Nam Ai làm khán giả cảm động, bà con vỗ tay liên tục. Sau buổi diễn đó, có bao nhiêu tiền trong chiếc nón cời ba cho hết tôi và em trai, bảo coi như là tiền mừng tuổi của bà con, cầm lấy mà mua sách vở, quần áo khi vào năm học mới.
Bây giờ gánh hát không còn nữa, ba tôi cũng đã về chốn vĩnh hằng, nhưng bà con quê tôi mỗi khi đi chúc Tết vẫn hồi tưởng, kể lại cho con cháu nghe về tuồng tích mà họ được xem ngày xưa, không khí Tết ngày xưa với những hoài niệm đẹp.
Mỗi lần về quê, tôi lại mong bà con trong thôn xóm cũ khôi phục lại các gánh hát bội để loại hình nghệ thuật độc đáo này không mất đi, bởi là nét văn hóa vô cùng đáng quý mà ông cha để lại./.
Nhà văn Trần Thu Hường