Mùa kháp đụng lợn

Truyện ngắn của Nguyễn Trọng Luân 12/01/2024 09:19

(HPĐT)- Thế hệ trẻ, nói theo cách thời thượng hiện nay là những người thuộc “gen Z”, đọc truyện ngắn này sẽ không thể tưởng tượng được có một thời đất nước lại gian khó đến thế. Truyện viết thật khéo. Vừa có nét văn hóa đặc trưng của người dân quê là “đụng lợn”, vừa có tình làng nghĩa xóm, vừa có không khí mùi vị của năm hết, Tết đến, vừa có tình yêu đôi lứa, vừa có chuyện thanh niên trai tráng lên đường tòng quân giết giặc, vừa có dư vị của chiến tranh, vừa có mất mát hy sinh của người ra trận, vừa có nỗi đau dai dẳng của người ở lại hậu phương… Tất cả chỉ gói gọn trong chừng hai nghìn năm trăm chữ. Dài rộng là thế, mà dồn nén, mà cảm động, mà bâng khuâng, khiến người đọc rưng rưng ngay cả khi đã đọc hết truyện. Buồn thương là thế, mà đọc xong thấy tin vào cuộc đời, thấy yêu quê hương, bản quán, yêu cả đói nghèo của một thời chưa xa giờ chỉ còn là kỷ niệm xa vời… Cái giỏi của người viết là ở chỗ đó.

Minh họa: Đặng Tiến

Nhà văn Nguyễn Đình Tú

Mưa phùn trắng cả ngoài vườn mơ gầy ngẳng nghiu. Những đốm hoa mơ trắng đã tàn, nhú lên những chấm quả xanh đen tí xíu. Những quả mơ non tái tái xanh bé như hạt lúa nếp run rẩy. Có đôi chim sâu lo so trên cây. Tiếng con mái gọi con sống chíp chíp chìm vào mưa phùn. Màn mưa xuân như khêu gợi, như ướm lạnh cả tiếng gọi nhau của nó. Tiếng reo vui tình ái của chúng nghe lạnh buốt, nhỏ tí teo.

Chiều sầm sẫm. Toàn đi vào ngõ nhà Mỵ. Đất bùn bết bàn chân đi đất khiến năm ngón chân thanh niên to bè nặng trịch. Nhiều lúc, Toàn phải dừng lại chùi mạnh bàn chân lên mặt cỏ ven đường. Lối vào nhà Mỵ đầy cúc tần quấn bồng bềnh những sơi tơ hồng. Toàn cấu sợi tơ hồng vê vê trên tay nhựa dinh dính mầu hồng nhạt, rồi gọi: Mỵ ơi, đánh chó tớ với! Trong nhà, bà Thiềng rên hư hư. Bố con Mỵ đang sửa cỗ chiều ba mươi Tết. Mỵ ra, nhìn Toàn ngượng nghịu.

- Bác Thiềng ơi, bố cháu bảo cháu mang miếng tim lợn để bác nấu cháo cho bá. Đây là phần của nhà bác đấy. Ngập ngừng hồi lâu rồi Toàn nói:

- Lúc chia phần, miếng tim này lăn sang phần nhà cháu.

Nói rồi Toàn vội chạy ù ra cổng. Có tiếng pháo nổ lép tép. Nhà ai đó cúng ba mươi sớm thế. Mỵ chạy theo:

- Anh Toàn, mấy ngày nữa anh đi rồi. Nhưng lúc này mẹ em ốm quá. Em chả dám đi đâu…anh biết cho em anh nhé. Toàn không quay lại, mà thấy nghèn nghẹn trong cổ. Toàn vừa đi vừa gật đầu.

Đã thành lệ, cứ gần Tết là Hợp tác xã họp khớp các gia đình với nhau để mổ lợn chung. Vui đáo để. Người ta gọi là “Kháp lợn”, “Đụng lợn”. Ở quê người ta nói trại đi khớp thành kháp. Kháp lợn là gạn ghép nhà này với nhà khác vào một phần chung nhau để dễ bề chia mỗi khi mổ lợn. Ngày ấy chả mấy nhà có tiền để mà ăn cả con lợn. Giỏi lắm thì dám ăn đến 1 đùi. Một đùi tức là một phần tư con lợn chứ chả chơi. Thường thì 4 nhà ăn một đùi. Nghĩa là con lợn sau khi chia làm 4 thì 4 nhà mang một đùi ra chia làm 4 nữa là phần nhà mình.

Cái sự chia ghép nhiều nhà ấy nên miếng thịt cứ nhỏ dần. Nhưng dẫu chia làm mấy thì vẫn đủ không thiếu thứ gì trong con lợn. Người ta chia đều từ thịt, xương, lòng, gan, tim, tiết, chân giò, thịt thủ… và cả nước luộc thịt. Cái sự “kháp lợn” ngày Tết nó tự phân hóa anh nghèo anh giàu, người này thân thích người kia rõ lắm. Con lợn chia làm bốn đùi, tức là bốn phần, mỗi nhà một đùi chia tư thật là dễ. Sợ là sợ những nhà ít tiền chỉ ăn một phần tư, phần năm đùi ghép mãi chả vào đâu. Ăn ít quá chả ai cho đụng thì tủi thân lắm. Miếng thịt ngày Tết cứ băm vụn, sẻ năm sẻ bảy ném lên vách tường không rơi. Đánh nhau chia gạo, chào nhau ăn cơm. Lúc chia thịt, mắt lom lom nhìn miếng thịt nhà mình bằng quả quýt, mà miếng nhà kia bằng quả cam là ức lên tận cổ. Miếng gan cắt xẻ làm tám, làm mười. Quả tim lợn cắt làm tư, làm bảy, rồi tiết để mang về đánh tiết canh, rồi nước luộc lòng mang liễn, mang nồi ra múc cho đều, đếm tính từng muôi, từng gáo. Ấy thế, nhưng chỉ vài tiếng sau bố mẹ bận sửa cỗ cúng bái, sai con đi mời hàng xóm ăn tất niên. Nhà này mời nhà kia cứ ríu rít. Mời càng đông khách càng vui. Bữa cơm chiều ba mươi với chén rượu nấu bằng sắn say bung biêng nhìn vườn mơ, vườn mận đẹp lung linh. Nhìn các bà vợ chân lấm tay bùn, đầu hôm sớm mai ngày Tết ai cũng đẹp hẳn lên. Những lúc ấy chả ai còn nghĩ nhà ai nhiều thịt, nhà ai ít bánh nữa. Tất cả với người nông dân là sự bình yên mong mùa màng, đừng thất bát. Những lúc ấy họ hay nghĩ đến đường tác thành con cái và họ cười thản nhiên nhẹ lâng.

Sáng nay lúc chia phần. Rải lá chuối giữa sân, rối rít miếng này miếng nọ, ai cũng nôn nao nhốn nháo. Lũ trẻ con tranh nhau cái bong bóng om xòm. Mấy con chó thừa lúc mọi người bấn bíu lao vào chộp miếng lòng, khiến ai nấy nhao ra đuổi chó. Miếng tim nhà bác Thiềng văng sang phần nhà Toàn. Lúc sửa cỗ, ông bố anh Toàn thấy có hai miếng tim ngẩn người, thôi chết nhà Thiềng không có tim. Lúc sáng ông ấy nói muốn có miếng tim về nấu cháo cho bà ấy đang ốm. Ông gọi:

- Toàn! Anh mang miếng tim này sang bên nhà bác Thiềng nói là của nhà bác ấy lẫn vào nhà mình nghe chưa?

Toàn thấy hơi khó chịu nhưng im lặng. Chiều nay đã thấy có người nói ngoài ngõ “lợn gì mà không có tim”. Tức anh ách. Với lại, biết nói với Mỵ thế nào. Vài hôm nữa chia tay lên đường nhập ngũ rồi. Chúng nó mà biết mình mang miếng tim sang nhà cô ấy lại trêu tình yêu tim lợn. Nghĩ vậy, nhưng Toàn vẫn cầm miếng tim bố gói vào lá chuối mang sang nhà ông Thiềng.

*

Đêm ba mươi Tết. Mỵ đứng đợi ngoài sân kho. Xóm làng đầy mùi khói và mùi nước luộc lòng lợn. Thỉnh thoảng có vài quả pháo tép trẻ con đốt đoành đoạch. Toàn nắm tay Mỵ. Mỵ nắm lại tay Toàn. Mỵ hỏi:

- Mùng tám lên đường hả anh?

- Ừ. Mùng tám hết Tết thì đi. Xã mình đi hơn chục người. Nghe Huyện đội nói đi lần này là vào chiến trường ngay đấy. Họ bảo mùa xuân này đánh to lắm. Khéo mà giải phóng miền Nam đến nơi. Anh sợ lại chả đi mà nhặt ống bơ.

Mỵ nghĩ Nhà nước cũng kín kẽ, tâm lý thật đấy, năm nào cũng cho thanh niên trai tráng ăn Tết rồi mới tòng quân. Người đi nào cũng mang theo khí thế phơi phới mùa xuân mà đánh giặc, người ở lại vin vào mùa xuân mà đợi chờ.

Mỵ tựa đầu vào vai Toàn.

- Nhặt ống bơ cũng được anh ạ. Nhặt xong rồi về xin bố bầm cho chúng mình cưới nhau Toàn nhé. Có lũ trẻ con chạy vụt qua hát nheo nhéo, anh Toàn chị Mỵ anh Tỵ chị Moàn, he he he he...

Sáng mồng một Tết. Ông Thiềng mời bố Toàn uống rượu năm mới. Cái đài bán dẫn nhà ông Thiềng duy nhất cả xóm đang rộn rã nói về tổng tấn công Mậu Thân. Giá mà bà Thiềng không ốm thì vui quá. Ông Thiềng khoe, đấy ông xem tôi để dành chai nước mắm loại một từ đận mồng 2 tháng chín trong năm đến bây giờ chấm lòng có tuyệt không ông. Rồi hai ông khà chén rượu ngước lên nghe cái đài oang oang. Ông Thiềng lại tiếp. Ối giời ôi, ông ơi chưa bao giờ quân ta đánh to thế. Đánh cả vào Sài Gòn nhé, đánh sân bay Tân Sơn Nhất cháy vô kể là tàu bay. Đấy đấy…. đánh cả Huế ông ạ. Thằng Mỹ chết rồi. Cho mày chết… cái lũ xâm lược.

Trong nhà, bà Thiềng vừa húp bát cháo nấu miếng tim lợn, tỉnh người, ngồi nhỏm dậy.

- Ông ơi, anh Toàn nhà ta đi đợt này hả ông?

- Vâng ạ! Mùng tám cháu nó đi.

Ông Thiềng tợp chén rượu gật gù:

- Phải đi, phải đi. Thanh niên không ra trận thì còn gì là ba sẵn sàng. Giống như hồi tôi với ông, không đi bộ đội thì cũng phải dân công Điện Biên mới là đàn ông chứ.

Ở dưới nhà, Mỵ ngồi khâu cái khăn tay mới được một con chim đậu cành mơ, còn thiếu một con nữa. Mỵ bần thần. Mưa rây rây ngoài vườn. Xóm làng cứ mờ mờ khói bếp màu xám bạc xà xuống những luống rau, những bãi mạ, mái nhà. Mùi mùa xuân mưa phùn ở nhà quê ngai ngái như mùi khói.

Tết năm ấy mưa đến khiếp. Đâu đâu cũng nhốn nháo tin ta đánh vào đầu não quân Mỹ, đánh vào thành phố. Tin ta vây hãm Khe Sanh khiến Mỹ chết liểng xiểng. Ở cái bảng tin ngoài xã có hình lá cờ nửa đỏ, nửa xanh trông thật là đẹp. Thanh niên rạo rực, người già háo hức. Những gia đình có con em đang ở chiến trường phấp phỏng thì thầm. Ai cũng nghĩ chỗ đài nói quân ta thắng, là chỗ có con mình. Con mình đang bắn chết thằng giặc. Cái chỗ ta đánh thắng ấy, địch thua ấy, là niềm hãnh diện của biết bao ông bố, bà mẹ miền Bắc. Lúc ấy chả ai nghĩ rằng ở chỗ đài đưa tin chiến thắng ấy có con em mình bị hy sinh. Cái sự náo nức chiến thắng trên đài ấy nó làm quên đi bao nhiêu là nỗi buồn, đằng sau nó mà cả làng không biết.

Thịt lợn, bánh chưng vèo cái đã hết. Tết của những năm cả nước kháng chiến chống Mỹ ấy trôi đi rất nhanh, nhường lại khí thế ra đồng sản xuất. Mùa xuân là mùa tinh thần bàn dân thiên hạ hy vọng, là mùa xuân xuống đồng, là mùa xuân đi đánh giặc, là gửi tình cảm mùa xuân ra tiền tuyến. Hôm ấy cả làng xuống đồng làm cỏ lúa. Mưa rây trên má Mỵ. Cái cào cỏ cứ đẩy đi đẩy lại một lối, còn đầu Mỵ chỉ nhớ đến Toàn. Nhớ đến lại thương anh ấy quá. Hình ảnh anh Toàn chiều ba mươi ngượng nghịu cầm miếng tim kháp đụng lợn sang nhà để Mỵ nấu cháo cho mẹ. Toàn đi chân đất và mặc cái áo bông đã cũ.

Toàn và hơn chục trai làng đi rồi, không ai về phép nữa. Họ chỉ có hai tháng huấn luyện rồi vội vã đi thẳng vào Nam. Họ vào để còn làm tiếp cái đợt 3 tổng tiến công năm ấy. Mỵ chỉ cầu khấn anh ơi nhặt ống bơ xong thì về anh nhé. Nhặt gì thì nhặt, chỉ mong là anh về với em. Mỵ thầm ước ngày cưới nhau sẽ mổ hẳn cả con lợn to để hai họ ăn cho bõ thèm.

Nhưng Toàn không về nữa. Đơn vị Toàn vào đến tận Tây Ninh rồi đánh về Củ Chi. Toàn và nhiều trai làng hy sinh khi mới có 8 tháng tuổi quân. Những người trai làng chết trẻ năm ấy chả mấy ai có mộ chí. Họ cùng nhau về sum họp ở đình Bến Dược uy nghiêm sau này. Ba năm sau, người ta báo tử Toàn. Xã làm lễ truy điệu lại cũng ở sân kho chỗ mổ lợn “kháp đụng” ngày xưa. Hôm ấy họ úp cái thuyền nan làm cái mả giả rồi phủ lên trên đó lá cờ đỏ. Đám tang Toàn ở giữa làng chỉ có cái khăn trắng của em gái anh Toàn, còn thì toàn là tiếng khóc ri rí. Tiếng ông Xã đội trưởng nói cái gì, Mỵ chỉ nhớ được mỗi câu “đồng chí Toàn”. Mỵ nức nở một mình. Tình yêu của họ thì chỉ có họ biết, hai gia đình không biết. Mỵ chợt thấy hiện lên cái khăn mùi xoa Mỵ tặng Toàn có con chim bay đi còn ngoảnh lại.

*

Một lần, bà Mỵ từ miền Nam về quê. Năm ấy bố anh Toàn yếu lắm rồi. Em gái anh Toàn thì đi lấy chồng làng bên. Bà Mỵ bần thần đi vào ngõ bây giờ không còn hàng cây cúc tần cuốn bập bùng những sợi tơ hồng ngày xưa. Căn nhà quạnh quẽ. Tấm ảnh truyền thần anh Toàn như người trong sương mù treo ở góc cái bằng Tổ quốc ghi công mốc thếch. Ông cụ rên hư hư. Bà Mỵ thưa:

- Cháu là Mỵ con ông bà Thiềng về thăm bác đây ạ.

- Mỵ đấy ư? Về bao giờ thế?

Bà Mỵ nhóm bếp.

- Bác ơi, cháu đun nồi cháo tim cho bác ăn bác nhé.

Ông cụ Toàn nghẹn ngào.

- Quý hóa quá.

Nói rồi ông Toàn cố gượng dậy. Vừa nói vừa thở vừa ho.

- Cô Mỵ pha cốc nước đường chanh uống cho mát. Hôm nọ xã vừa đưa quà 27-7 vào. Có cân đường, hộp sữa, tôi vẫn để trên bàn thờ ấy, chanh thì có sẵn ngoài vườn.

Bốn mươi năm trôi đánh vèo. Bà Mỵ ngước lên thì thầm, tay run rẩy nén nhang.

- Anh Toàn ơi, em là Mỵ đây. Em đun nồi cháo cho bố ăn, rồi em lại phải đi đây. Em đi để kịp chuyến tối nay em bay về Sài Gòn. Em cũng đã lên Củ Chi nhiều lần tìm mộ anh mà chả thấy. Sao anh chả báo mộng cho ai chỗ anh nằm. Để có người đi đón anh về…

Bà Mỵ nghẹn giọng, hồi lâu bà khấn tiếp.

- Quê mình bây giờ thịt lợn ê hề đến nỗi Nhà nước đang phải giải cứu thịt lợn kia kìa. Vậy mà suốt bốn mươi năm qua cha mẹ mình chưa bao giờ được ăn trọn vẹn một quả tim hay buồng gan lợn bao giờ….

Bà Mỵ khóc. Đột nhiên cái ngõ cúc tần với những cuộn tơ hồng bập bùng trong chiều mưa ba mươi Tết hiện ra. Mùi khói bếp, mùi nước luộc lòng lợn, mùi mưa phùn mùi quê hương ngai ngái hệt như mùi khói./. 

Truyện ngắn của Nguyễn Trọng Luân
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Mùa kháp đụng lợn