Mùa xuân biên cương và màu xanh áo lính

Lê Hoài Nam 26/07/2018 14:46

Đọc “Đường biên cương dệt mùa xuân”, tập bút ký của Phạm Vân Anh, NXB Quân đội nhân dân

Nhà thơ, nhà báo Phạm Vân Anh.




Để viết được tập bút ký “thuần biên giới” này, Phạm Vân Anh có hàng chục năm mặc áo lính quân hàm xanh, biên chế trong tòa báo Biên phòng. Điều kiện ấy cùng  tình yêu nghề đưa bước chân của chị tới hầu khắp những miền biên giới của Tổ quốc. Từ nơi địa đầu Móng Cái đến đất cuối  Hà Tiên, nơi nào có đồn biên phòng là có dấu chân của chị. Nên những gì chị viết là mắt thấy, tai nghe, có hơi thở nồng nàn của cuộc sống.


Trong bút ký “Tình phù sa”, tác giả chọn hình tượng con sông Mê-kông để viết về mối quan hệ giữa 6 quốc gia có chung nguồn nước: Trung Quốc, Lào, Mi-an-ma, Thái Lan, Cam-pu-chia và Việt Nam, trong đó 3 nước có chung đường biên giới trên bộ với Việt Nam. Tác giả khẳng định: Cái nguồn nước mênh mang quý giá Mê-kông  làm nên máu thịt, màu da,  gắn kết các dân tộc bên dòng sông ấy, cái “biên giới lòng người” khi  được giải tỏa, cái biên giới trên địa lý hành chính cũng sẽ được gắn kết, và thực sự nhiều thập niên qua  là như vậy, kể cả trong chiến tranh cũng như trong hòa bình. Nhìn tổng thể là như thế. Nhưng trong từng giai đoạn cụ thể không phải là không có những xung đột. Những năm gần đây, khi điều kiện kinh tế cho phép, ngay sau khi kết thúc các vòng đàm phán và ký kết hiệp ước về phân giới cắm mốc với các nước láng giềng, Đảng và Nhà nước ta quyết tâm đầu tư sức người, sức của để công trình trọng điểm “Đường biên giới quốc gia” được hoàn thành. Phạm Vân Anh cung cấp tới bạn đọc khá nhiều chuyện chung quanh quá trình xây dựng công trình lớn này qua bút ký “Trên hành trình tạc hình Tổ quốc”.


Trong bút ký “Người của Mường Khương” tác giả mô tả  vùng đất chập chùng đá núi, mây giăng bao phủ, giàu truyền thống văn hóa, nhưng nhân dân rất nghèo và lạc hậu. Một trong những người có công lớn giúp những bản làng nghèo khổ, phức tạp như Bản Lầu, Pha Long, Mường Khương đổi thay theo chiều hướng tích cực chính là Thượng tá Trần Quốc Khải, Đồn trưởng Đồn biên phòng Mường Khương, người có thâm niên gần 20 năm gắn bó với đất biên cương.

Tập bút ký “Đường biên cương dệt mùa xuân” do NXB Quân đội nhân dân ấn hành.


Cùng đề tài, trong bút ký “Hành trình La Hủ” tác giả kể về  tộc người sống ở vùng ven biên giới Mường Nhé - Lai Châu từng có nguy cơ suy thoái, biến mất khỏi mặt đất. Họ nghèo đói nhưng quen cách sống dựa dẫm. Những khoản trợ cấp của Chính phủ đưa về, họ ăn chơi vô tội vạ. Bản làng của họ trở nên tiêu điều khi họ lại dính các tệ nạn rượu chè, nghiện hút. Nhưng Chính phủ không bỏ rơi họ. Những người lính quân hàm xanh không xa lánh họ. Các anh kiên trì, không tiếc mồ hôi công sức hướng dẫn  họ biết làm ruộng bậc thang trồng lúa, thâm canh hoa màu, làm chuồng nuôi lợn, nuôi bò. Năm 2017, bắt đầu vụ mùa bội thu, nạn nghiện ngập bị giải trừ, cuộc sống  ổn định trở lại…


Còn trong bút ký “Sau bóng núi giăng màn”, tác giả kể về cuộc sống của cộng đồng người Chứt, tộc người tuy ít ỏi (khoảng 6022 người), nhưng lại có tiếng nói gần giống tiếng Việt lúc sơ khai. Các nhà nghiên cứu phát triển các dân tộc thiểu số và miền núi thuộc Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn  nhận xét: tiếng Chứt như “Bảo tàng lưu giữ các giai đoạn phát triển của tiếng Việt”. Những người lính quân hàm xanh phát hiện ra tộc người này tại miền núi giáp biên cương Hà Tĩnh – Quảng Bình. Họ sống ẩn giật, hoang dã, hầu như không có khái niệm về nền văn minh, nhất là họ đang trong quá trình suy thoái, tan đàn sẻ nghé vì đói khổ, vì hôn nhân cận huyết. Từ vị tướng Võ Trọng Việt đến người lính quân hàm xanh đều hạ quyết tâm cứu lấy người Chứt. Hồi ấy ông Việt là chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh Hà Tĩnh. Ông trực tiếp xây dựng phương án, rồi cùng với cán bộ, chiến sĩ lặn lội vào rừng sâu đưa từng hộ người Chứt về với cộng đồng, dạy họ cánh trồng trọt, chăn nuôi, kỹ năng sống. Đến lúc họ có cuộc sống ổn định, ông trở thành sĩ quan cấp tướng, Ủy viên Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội ông vẫn không quên họ. Khi trở lại thăm họ, bà con đón tiếp ông như đón  người thân, tỏ lòng biết ơn ông và những người lính quân hàm xanh vô hạn.


Không chỉ có vị tướng tư lệnh Võ Trọng Việt, trong tập sách còn nhiều tấm gương sẵn sàng giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số, cùng họ xây dựng cuộc sống nơi biên cương mãi mãi bình yên. Như trong bút ký “Mình là con cháu Bác Hồ”, tác giả kể về ông già cựu chiến binh Pả Ai, người Vân Kiều,  con người khá đặc biệt, lập nên kỳ tích chưa ai làm được nên người ta gọi ông là “Lưỡng quốc già làng”, nghĩa là ông già của hai làng, mà hai làng của hai quốc gia. Làng (bản) A Ho, xã Thanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị - Việt Nam và bản Đen-vi-lay, huyện Mường Noòng, tỉnh Sa-va-na-khẹt – Lào. Cũng trong bút ký này, còn cựu chiến binh người Pa Cô Hồ Văn Môn (tên thật là Côn Thương) lặn lội gùi cây giống đến từng bản, từng nhà, gặp từng người để tuyên tuyền về giá trị của từng loài cây, hướng dẫn bà con cách trồng và chăm sóc. Côn Thương còn dạy bà con chuyển ngữ từ tiếng dân tộc này sang tiếng dân tộc kia. Không chỉ với đồng bào nước mình, mà còn với đồng bào nước Lào nữa. Trong một số bút ký khác, bạn đọc còn được gặp những nhân vật rất hay, như Bùi Văn Nghĩa được bà con mệnh danh là “Ông lớn vùng biên”, Vi Văn Tít, Trưởng bản Na Pê của Lào, Trưởng thôn A Dói…


Tuy vậy, theo ý riêng của người viết bài này, một trong những bút ký thành công nhất trong tập là “Cảm ơn thầy thuốc bộ đội Biên phòng Việt Nam”. Trong đó, Phạm Vân Anh kể về Trạm y tế quân – dân y kết hợp Thoọng Pẹ do Đồn Biên phòng cửa khẩu Cầu Treo (Hà Tĩnh) xây dựng để phục vụ công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân một số làng bản biên giới nước bạn Lào. Cách đây 20 năm, khi chưa có Trạm quân – dân y này. Tác giả viết: Cái trạm quân y đặc biệt này, người bệnh không cần quan tâm đến giới hạn địa chính, không lo bị phân tuyến, có thể đến trạm bất cứ lúc nào mà không cần bảo hiểm y tế hay bất cứ loại giấy tờ gì, càng không phải lo chuyện tiền nong. Người bệnh, sau khi khám không thể dùng đơn thuốc hướng dẫn như thông thường mà bác sĩ, y tá phải chia các loại thuốc theo từng ngày, cho vào từng túi ni-lông nhỏ. Đến hẹn, nếu không thấy người bệnh đến tái khám thì những người thầy thuốc quân y phải lặn lội tìm đến nhà bệnh nhân để kiểm tra. Người bệnh nơi khác phải cầu cứu bác sĩ thì ở đây họ nói tỉnh bơ: “Con tao nó ốm thì tao đem đến cho “thần mỏ Việt Nam” chữa thôi. Tao không cúng ma nữa, nhưng nhớ phải chữa khỏi cho con tao đấy”. Thậm chí có trường hợp như gia đình anh Tềnh Phồng thì thái độ “hách” hơn. Khi đưa vợ đến trạm chữa bệnh sốt rét, anh mặc cả trước rằng: “Nếu thần mỏ không đuổi được con bệnh trong người vợ tao, để vợ tao chết thì tao bỏ bản đi nơi khác sống thôi…”. Ở trạm quân – dân y Thoọng Pẹ, những trường hợp ứng xử thú vị như Tềnh Phồng không phải là chuyện hiếm. Họ còn chữa khỏi bệnh cho chính ông Clông thầy mo của bản. Chữa khỏi rồi, họ vận động ông từ nay không chữa bệnh bằng cúng bái cho dân bản nữa…


Đặc biệt, trong tập sách, Phạm Vân Anh quan tâm đến mảng quan trọng, đó là văn hóa. Một nhà văn như chị không thể không thấu hiểu rằng: muốn đến với người dân tộc trước hết phải hiểu và tôn trọng văn hóa của họ. Văn hóa chính là yếu tố đầu tiên để hiểu biết và gắn kết con người với con người, dân tộc này với dân tộc khác. Hầu như các bút ký trong tập, ở phần này phần khác, tác giả đều điểm xuyết tới phong tục, tập quán, ngôn ngữ trong văn hóa của những tộc người khác nhau. Song chị vẫn dành riêng những  bút ký khai thác sâu về văn hóa như “Lang thang miền dã sử”, “Năm thế kỷ tương tư Nam Quốc”, “Sau bóng núi giăng màn”, “Vũ điệu trên than hồng”, “Người Lô Lô trên biên cương cực Bắc”… Ví như trong bút ký “Mình là con cháu Bác Hồ”, tác giả dành một phần viết về nghệ nhân Mai Hoa Sen được người Pa Cô ở Quảng Trị gọi theo cách đầy thương mến: “Người nghệ sĩ Pa Cô của đại ngàn Trường Sơn”. Mảnh đất có biên giới chạy dài hơn 200 ki-lô-mét từ huyện A Lưới tỉnh Thừa Thiên – Huế vắt sang huyện Hướng Hóa và Đăk Rông của Quảng Trị là đất sống lâu đời của người Pa Cô cổ và của gần 20 nghìn đồng bào dân tộc Pa Cô ngày nay. Sau chiến tranh, cuộc sống khó khăn khiến bà con dần quên đi tiếng cồng chiêng hùng tráng, tiếng đàn Ta-lư réo rắt, quên cả những ngày bản mở hội mừng lúa mới. Với tình yêu âm nhạc dân gian truyền thống của dân tộc mình, người cựu chiến binh Mai Hoa Sen  bỏ công sưu tầm những nét đẹp văn hóa đang bị mai một để truyền dạy hậu thế. Nhưng Mai Hoa Sen làm được như thế không thể không kể đến sự giúp đỡ của những người lính quân hàm xanh. Họ  tạo điều kiện để ông đi đến nhiều bản làng để tìm hiểu, sưu tầm. Bộ sưu tập của ông ngày một dầy thêm, với rất nhiều làn điệu, nhạc cụ khác nhau như: bộ chiêng sáu cái, đàn Ta-lư, đàn Môi, Khèn Xiên, đàn A-ben…


Chất liệu dồi dào, sống động, thông điệp phong phú làm nên điểm mạnh ở bút ký Phạm Vân Anh.

Phạm Vân Anh sinh năm 1980 tại Hải Phòng. Là một trong những hội viên trẻ nhất của Hội Nhà văn Việt Nam. Đến với văn chương bắt đầu là thơ: “Tôi chào tôi” (2004), “Mùa tình” (2006), “Góc” (2009), “Sa Mộc” (trường ca – 2016), năm 2011, Phạm Vân Anh ra mắt tập truyện ngắn đầu tiên có tên là “Ngón hoa”. Năm 2014 xuất bản tập truyện ký “Khúc quân hành lặng lẽ”, và năm 2017 là tập “Đường biên cương dệt mùa xuân”.
Lê Hoài Nam
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Mùa xuân biên cương và màu xanh áo lính