Nguồn lực phát triển mới
![]() |
| Ngành logistics Việt Nam thời gian qua phát triển vẫn chưa xứng tầm. |
Tại Việt Nam, ngành logistics đã có một quãng đường phát triển tương đối dài. Thời gian gần đây, cùng với tiến trình đổi mới, mở cửa đất nước, khi hoạt động ngoại thương ngày càng sôi động hơn, ngành logistics cũng bắt đầu có những bước khởi sắc. Tuy nhiên, trình độ phát triển của logistics thực tế còn rất thấp, khoảng 1.500 doanh nghiệp (DN) logistics là tỷ lệ khá ít ỏi so với tổng số khoảng 700 nghìn DN trên cả nước hiện nay. Mức độ đóng góp của lĩnh vực này cho nền kinh tế cũng chưa tương xứng với tiềm năng, chỉ ở mức khoảng 3% GDP; chi phí lại chiếm tới 20 đến 25% GDP, trong khi, chi phí logistics ở các nước phát triển thường chỉ chiếm 10 đến 13% GDP, ở các nước đang phát triển là 15 đến 25% GDP. Tiết kiệm tối đa chi phí logistics sẽ góp phần rất lớn trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Việc làm này càng có ý nghĩa với nước ta khi nền kinh tế đang có độ mở lớn, bằng khoảng 170% GDP, kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK) cũng gần đạt mức 400 tỷ USD vào cuối năm 2016, tăng trưởng xuất khẩu ở mức 8,6%.
Chuyên gia logistics Nguyễn Tương cho rằng: Chuỗi cung ứng thiếu ổn định là yếu tố chính khiến chi phí kho vận của Việt Nam cao. Theo thống kê, vận tốc bình quân của xe tải lưu thông trên các tuyến quốc lộ nước ta chỉ đạt 35 km/giờ, thấp hơn nhiều so các nước khác trong khi một phần ba lượng xe tải này lại thường để trống trên đường về sau khi vận chuyển hàng. Bên cạnh đó, thủ tục hải quan hiện nay cũng chậm hơn khoảng ba ngày so với thủ tục tốt nhất tại Đông - Nam Á. Một nghiên cứu khác cho thấy, nếu tổ chức tốt hơn chuỗi cung ứng, các DN của Việt Nam có thể tiết kiệm được chi phí lưu kho khoảng 100 triệu đồng/năm. Bên cạnh đó, một chỉ số quan trọng khác để đánh giá hiệu quả hoạt động của logistics Việt Nam là tỷ lệ thuê ngoài cũng chưa cao.
Phần lớn các DN sản xuất thương mại và XNK hiện nay thường tự mình tiến hành các hoạt động logistics với chi phí cao, hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng cạnh tranh của chính DN. Ngoài ra, trong tiến trình mở cửa, các DN nước ngoài tham gia ngày càng nhiều vào thị trường logistics của Việt Nam mà phần lớn là các DN lớn, tập đoàn xuyên quốc gia,… có tiềm lực kinh tế mạnh mẽ và nhiều kinh nghiệm, cho nên đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường hoàn toàn. Còn các nhà cung ứng dịch vụ logistics (LSP) Việt Nam với “mẩu” thị phần tương đối nhỏ còn lại, chỉ còn biết làm thầu phụ hoặc làm thuê cho DN nước ngoài với những công đoạn đơn giản nhất trong chuỗi cung ứng logistics. Tình trạng độc quyền của LSP nước ngoài cũng là nguyên nhân khiến chi phí xuất khẩu tăng cao, khi DN Việt Nam hiện phải chịu sức ép về phí từ các hãng tàu rất nặng, thậm chí có phí rất vô lý. DN logistics nước ngoài áp đặt các loại phí mà không có biện pháp nào ngăn chặn được, đồng thời vẫn có xu hướng tăng trong thời gian tới. Thực trạng này, theo các chuyên gia, một phần do DN Việt Nam còn “lười” sử dụng dịch vụ logistics trong nước.
Có thể thấy, mặc dù một số LSP trong nước đã phần nào tạo được niềm tin đối với các DN XNK, nhưng con số này chỉ chiếm tỷ trọng rất ít ỏi. Tâm lý chuộng các LSP/hãng tàu nước ngoài, nghiêm trọng hơn là tập quán thương mại của các DN XNK Việt Nam vẫn còn tồn tại việc mua CIF bán FOB (mua đứt, bán đoạn, nhường quyền chỉ định dịch vụ logistics cho đối tác nước ngoài), hoặc chưa coi trọng quản lý chuỗi cung ứng, từ đó chưa sẵn sàng thuê ngoài dịch vụ, hoặc chỉ thuê ngoài các dịch vụ đơn lẻ.
Tăng cường liên kết
Các DN logistics trong nước chưa có sự chủ động trong việc gắn kết với các DN XNK và đặc biệt còn yếu về khả năng cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức hay các giải pháp tổng thể về logistics. Giám đốc điều hành Tổng Công ty CP May Nhà Bè Đinh Văn Thập chia sẻ: Nếu nói logistics là dịch vụ giúp các nhà sản xuất quản lý công việc luân chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, hoặc nguyên liệu từ nhà cung cấp đến với nhà máy sản xuất thì dịch vụ logistics trong nước hiện vẫn đang dừng lại ở mức là người đại diện cho các nhà vận chuyển, thông báo về tình hình vận chuyển của hàng hóa từ cảng đi đến cảng, thay mặt người vận chuyển phát hành lệnh giao hàng hóa cho DN sau khi hàng hóa cập cảng, thay mặt các hãng tàu thu các loại phí,… Phó Cục trưởng XNK (Bộ Công thương) Trần Thanh Hải nhìn nhận: Việc hỗ trợ nâng cao năng lực, giúp DN logistics Việt Nam lớn lên, bắt kịp với tiến trình hội nhập và các hoạt động XNK là yếu tố rất quan trọng. Đây đã là thời gian mà các DN logistics phải dốc hết sức “chạy đua” để lớn nhanh, mạnh, tập trung nâng cao năng lực, trình độ quản lý; chú trọng đào tạo đội ngũ nhân lực giỏi, chuyên nghiệp; nắm bắt hiệu quả cơ hội thị trường;… mới có thể bắt kịp các DN nước ngoài; nếu không chắc chắn sẽ “thua trên sân nhà”.
Cũng trong “cuộc chơi” này, cộng đồng hàng trăm nghìn DN XNK và sản xuất thương mại trong nước phải là “chỗ dựa” vững chắc cho các DN logistics. Từ một góc độ khác, chính các DN này cũng rất cần sự phối hợp với các DN dịch vụ logistics để có sự phân công lao động rõ ràng và đem lại hiệu quả tốt nhất. DN XNK và sản xuất thương mại chỉ cần tập trung xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và nâng cao chất lượng sản phẩm,… Còn toàn bộ những khâu đưa nguyên vật liệu hoặc phân phối sản phẩm đến các đối tác hay ra thị trường thì để cho các DN cung cấp dịch vụ logistics, vốn là những đơn vị chuyên nghiệp trong lĩnh vực này thực hiện. Các DN XNK cần tin tưởng nhiều hơn nữa vào năng lực của các LSP Việt Nam, phát huy tinh thần “DN Việt Nam ưu tiên dùng dịch vụ Việt Nam”, nhằm giúp DN logistics có cơ hội cải thiện, nâng mình lên, từ đó hỗ trợ trở lại các DN XNK trong việc giảm thời gian lưu thông hàng hóa, tăng độ tin cậy và giảm chi phí,… Đây cũng là một mục tiêu quan trọng mà kế hoạch nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 đang hướng tới.
Theo nhandandientu