
Trong tháng 7-2020, Chính phủ công bố dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về hạn mức trả tiền bảo hiểm tiền gửi (BHTG). Theo dự thảo, số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm theo quy định của Luật BHTG (gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia BHTG tối đa là 125 triệu đồng. Dự thảo được lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan và người dân trước khi Thủ tướng Chính phủ ban hành và nhận được sự đồng tình của nhiều người dân, các chuyên gia.
Ở Việt Nam, Luật BHTG quy định, hạn mức trả tiền bảo hiểm là số tiền tối đa mà tổ chức BHTG trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một người tại một tổ chức tham gia BHTG khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. Luật không quy định một hạn mức “cứng” mà giao Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ. Điều này bảo đảm việc điều chỉnh linh hoạt hạn mức BHTG khi cần thiết để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, mức sống của người dân trong từng thời kỳ, qua đó bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.
Cho đến nay, hạn mức trả tiền bảo hiểm tại Việt Nam 2 lần được điều chỉnh tăng lên. Cụ thể, hạn mức trả tiền bảo hiểm đầu tiên được áp dụng ở mức 30 triệu đồng (từ năm 1999 đến tháng 8-2005); sau đó được điều chỉnh lên mức 50 triệu đồng (từ tháng 9/2005 đến tháng 7/2017); mức 75 triệu đồng được áp dụng từ ngày 5-8-2017 đến nay. Theo đánh giá của BHTG Việt Nam, với hạn mức trả tiền bảo hiểm là 75 triệu đồng, tại thời điểm tháng 6-2020 bảo vệ toàn bộ được hơn 87% số người được bảo hiểm tại Việt Nam.
Tuy nhiên, theo thông lệ quốc tế và thực tế tại Việt Nam, hạn mức BHTG 75 triệu đồng hiện nay không còn phù hợp với 3 yêu cầu xây dựng hạn mức bảo hiểm tiền gửi phù hợp cho mỗi quốc gia nêu tại Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả (2014) và hướng dẫn của Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI). IADI khuyến nghị, hạn mức và phạm vi bảo hiểm cần có giới hạn để giảm thiểu rủi ro rút tiền ngân hàng và duy trì kỷ luật thị trường, bảo đảm phần lớn người gửi tiền ở các ngân hàng được bảo vệ (chiếm tỷ lệ từ 90 - 95%người gửi tiền). Hiện nay, với hạn mức BHTG 75 triệu đồng chỉ bằng 1,25 lần GDP bình quân đầu người năm 2019, thấp hơn so với mức 2 lần theo thông lệ quốc tế và thấp hơn so với mức khuyến nghị 90 - 95% của IADI.
Bên cạnh đó, hiện nay, các điều kiện kinh tế vĩ mô liên quan đến hạn mức trả tiền bảo hiểm như GDP bình quân đầu người, lạm phát, tỷ giá, lãi suất…đều thay đổi. Nhất là mức tiền gửi của người dân tăng cao, có nhiều khoản tiền gửi lên đến hàng tỷ đồng nên mức chi trả 75 triệu đồng không còn phù hợp.
Ngoài ra, sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, năng lực tài chính của BHTG Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Từ nguồn vốn được cấp ban đầu là 1.000 tỷ đồng, đến hết năm 2020, tổng tài sản của BHTG Việt Nam đạt70,6 nghìn tỷ đồng, trong đó quỹ dự phòng nghiệp vụ (thể hiện khả năng chi trả của BHTG Việt Nam theo quy định của Luật BHTG) đạt 64,3 nghìn tỷ đồng. Đây là nền tảng quan trọng giúp BHTG Việt Nam có đủ khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ người gửi tiền phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế và tham gia có hiệu quả vào quá trình tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), đặc biệt là hệ thống quỹ tín dụng nhân dân thông qua hoạt động hỗ trợ tài chính.
Từ những cơ sở trên, NHNN Việt Nam trình Chính phủ điều chỉnh nâng mức BHTG lên 125 triệu đồng để phù hợp với thông lệ quốc tế, thực trạng tình hình kinh tế vĩ mô ở Việt Nam, quy mô tiền gửi và thông lệ, năng lực tài chính của tổ chức BHTG Việt Nam. Với hạn mức BHTG 125 triệu đồng, gấp 2 lần GDP bình quân đầu người, tỷ lệ người gửi tiền được bảo vệ toàn bộ của toàn hệ thống là 90,94%, nằm trong khoảng khuyến nghị của IADI. Đồng thời, theo tính toán của NHNN, với hạn mức BHTG 125 triệu đồng, tương đương 2 lần GDP bình quân đầu người thì quỹ dự phòng nghiệp vụ của BHTG Việt Nam có đủ khả năng để đảm bảo chi trả tiền gửi cho 100% quỹ tín dụng nhân dân. Như vậy, người gửi tiền sẽ an tâm hơn khi gửi tiền vào hệ thống các tổ chức tín dụng, góp phần tăng huy động vốn, tạo điều kiện phát triển kinh tế đất nước./.