(HPĐT)- Trần Nguyên Thạch là bút danh của nhà giáo Nguyễn Ngọc Tấn, hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng. Quê ở Thanh Hóa, nhưng ông lại gắn bó với đất Cảng từ khi đi bộ đội tới lúc ra quân, dạy ở các trường cấp 3 Kiến Thụy, hệ chuyên ở cấp 3 Thái Phiên và Trường THPT chuyên Trần Phú cho tới ngày về hưu. Suốt cuộc đời mình, ông có nhiều cống hiến cho sự nghiệp “trồng người” và làm thơ nặng tình với đất Cảng.

Trong “Hợp tuyển Văn học Hải Phòng (2018- 2023), tập 1”, ông để lại dấu ấn tập trung, đậm nét, nổi bật nhất là chủ đề “Hải Phòng – địa linh nhân kiệt”. “Ngẫu hứng Bạch Đằng Giang” có thể xem là một trong những bài thơ súc tích và hay nhất về địa chỉ văn hóa- lịch sử này, được tái hiện bằng niềm tự hào cao cả. Nơi ấy “mênh mang cửa bể”, bao thế kỷ “giáo gãy gươm chìm”, “tiếng thời gian cuồn cuộn cứ trào dâng”, để làm nên một “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng” như lời thơ tràn đầy lòng kiêu hãnh và đậm chất tuyên cáo của người xưa. Nơi ấy đẹp “bát ngát sóng kình và thướt tha đuôi trĩ”, nhưng là chiến địa hiểm yếu của non nước và trí tuệ của ông cha: “Cọc gỗ Bạch Đằng. Ta cắm giữa lòng ta chờ giặc đến/ Giấu hờn căm trong nhọn hoắt lim rừng/ Ai có ngược dòng xưa lắng nghe từng con sóng/ Vỗ ngàn năm hoài niệm khúc anh hùng”. Hai dòng kết bài chất chứa cả ý tình hình nhạc và âm vang như khúc tráng ca: “Ta bỗng thấy qua trùng trùng bão tố/ Dòng sông bay như vệt sáng dưới mặt trời”.
Ba khúc ca viết theo thể 4 tiếng và được đánh số một cách rất dụng ý trong “Bài ca ông trâu” của tác giả, lại mang tới một cảm thức khác về mảnh đất nơi “đầu sóng ngọn gió” này. Khúc 1 là tiếng hát của trời thu tự bao đời gọi nhau về Đồ Sơn tụ hội, đúng như câu ca “Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về”. Nơi ấy có “trời xa… biển gần”, có “linh khí” của đồng đất, tụ lại thành sắc xanh của sự sống “Nghìn muôn tốt lành/ Cho ta sức mạnh/ Ta chọi vào nhau”. Khúc 2, tái hiện lại những trận thư hùng của những mùa chọi trâu, đẹp theo cách dũng mãnh. Những “ông trâu” trong cuộc giao tranh như tứ trụ chống trời, “Đôi sừng lấy cáng/ Gồng ghênh biển xanh”. Cuộc chiến không khuôn lại trong sân bãi, mà phải sánh trong không gian đất trời- sóng biển, như “Bão nổi sóng cồn/ Hổ lao trời giáng/ Ầm ầm núi sông”. Khúc ca cuối cùng, khi “Cuộc chơi đã hết/ Hội mở đã tàn”. Đó là tâm thức dân gian, lý giải vì sao lễ hội độc đáo của miền đất này tồn tại và được lưu giữ lâu đến thế.
Nói Hải Phòng là đất “địa linh nhân kiệt”, thì phải kể đến rất nhiều danh nhân. Nhưng dường như không thể bỏ qua Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. “Như nhật trung thiên” là 4 chữ trong Đền thờ của Cụ ở Cổ Am (huyện Vĩnh Bảo) được tác giả lấy làm tiêu đề cho một bài thơ. Bài chỉ có 3 khổ, 13 dòng, nhưng tác giả bày tỏ cảm xúc và đánh giá thấu đáo về tư tưởng và sự nghiệp của nhà hiền triết “như Lý Học cao siêu lừng lững giữa đời/ Bao triều đại dưới bóng ông rợp mát/ Minh triết hồn ông là nhân giả thắng binh đao tàn ác/ Dâng sớ chém nịnh thần không thỏa ước/ Bên bóng đa làng vui lập quán Trung tân”. Bài thơ dầy đặc những ẩn dụ, những thi ảnh, được sử dụng theo lối điển cố, lấy từ cuộc đời, hành trang và thi ca của tiền nhân khiến cho ý thơ sâu xa và sắc bén: “Ông sống giữa lòng dân. Muôn đời dân tôn ông là bậc thánh/ Sấm kí truyền ngôn gửi lòng mình cao thẳm/ Về với thảo am bạn cùng mây trắng ngang trời”. Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm cuối đời ẩn cư, nhưng thân không nhàn mà tâm còn muôn mối “Ngẫm non nước đầy vơi bao thế sự/ Hồn rực cháy hùng tâm và chính khí/ Vút lên thành “Như Nhật Trung Thiên”.
Đến thăm thác Bản Giốc, nhà thơ có những suy tư thật lay động về câu chuyện tình: “Đâu thác trắng ngàn xưa như mây/ Đâu sông xanh ngàn xưa như ngọc/ Và đâu nữa? Bến sông xưa em tắm/Da núi trắng ngần cho ai mê say”. Những câu hỏi tu từ ấy đâu cần trả lời, nhưng đủ sức tìm sự đồng vọng và nhắc nhớ tâm can!
Là người lính từng trải qua chiến tranh, tác giả thường viết về những kỷ niệm trong hoặc sau thời khói lửa. Ở đây là bài “Người viết chữ Thanh xuân”, dành tặng những nhà giáo đã đi qua chiến tranh. Họ là người lính từng một thời cầm phấn: “Chiến trường dâng tuổi trẻ… Tuổi xuân ai không về”. Còn người trở về thì “Có điều gì bâng khuâng/ Ở trong từng nét chữ”. Tay viết hai chữ “Thanh xuân” như gọi về hồi ức, nhưng mà sao “run tay thế/Biết đang xa mùa Xuân”.
Bài: ĐINH THIÊN HƯƠNG