(HPĐT)- Từ năm học 2019- 2020 đến nay, ngành Giáo dục- Đào tạo (GĐ-ĐT) có nhiều giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học và quản lý. Đây là cơ sở để ngành GD-ĐT thành phố từng bước thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; hướng đến số hóa trong toàn ngành, nhằm xây dựng thành công môi trường giáo dục thông minh.

Giáo viên Trường tiểu học Nguyễn Đức Cảnh ứng dụng bài giảng điện tử trong hoạt động giảng dạy.
Chuyển đổi số toàn diện
7 giờ sáng hằng ngày, tại Trường tiểu học Núi Đèo (huyện Thủy Nguyên), thay vì điểm danh trên lớp theo lối truyền thống, các học sinh của trường hào hứng sử dụng thẻ điện tử để thực hiện việc quẹt thẻ, nhận diện bằng thiết bị điểm danh điện tử. Sau đó, kết quả điểm danh sẽ được gửi trực tiếp tới cha mẹ học sinh và nhà trường thông qua ứng dụng được cài đặt trên điện thoại thông minh. Được biết đây là sản phẩm công nghệ Trường tiểu học Núi Đèo trang bị đến các học sinh trong năm học 2020- 2021; không chỉ giúp tiết kiệm thời gian khâu điểm danh mà còn nâng cao ý thức đi học đúng giờ, giữ gìn vật dụng cá nhân của mỗi học sinh. Còn tại Trường THPT Thái Phiên, thiết bị điểm danh điện tử được sử dụng từ năm học 2019- 2020. Ngoài chức năng điểm danh, thiết bị còn tích hợp hệ thống kiểm tra thân nhiệt, bảo đảm an toàn sức khỏe cho giáo viên và học sinh trong phòng, chống dịch COVID- 19.
Nếu việc ứng dụng CNTT trong việc điểm danh học sinh còn khá mới mẻ, đang được các cơ sở giáo dục trên địa bàn thành phố tìm hiểu và từng bước áp dụng, thì hoạt động dạy học trên lớp, ra bài tập về nhà bằng các bài giảng, giáo trình điện tử trở nên quen thuộc và đạt hiệu quả cao với đông đảo giáo viên và học sinh. Tại Trường THCS Ngô Quyền (quận Lê Chân) tiết Hóa học của lớp 9A2 diễn ra sôi nổi với sự hỗ trợ của máy chiếu, máy tính. Thay vì truyền đạt kiến thức theo lối cũ, giáo viên đưa công thức, học sinh làm bài tập, nay hơn 40 học sinh trong lớp được tương tác với thầy giáo. Từ những câu chuyện liên quan đến hóa học, thầy giáo trình chiếu hình ảnh, clip về quy trình tẩy rửa đường ống sản xuất thép; qua đó, học sinh chăm chú quan sát và cùng nhau thảo luận về các kỹ thuật làm sạch đường ống và xây dựng phương trình phản ứng hóa học. Phương pháp giảng dạy này vừa mở rộng không gian giáo dục, vừa giúp thầy- trò cùng hào hứng bước vào bài học mới.
Phó giám đốc Sở GD- ĐT thành phố Đỗ Văn Lợi cho biết: Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy và học, công tác quản lý được Sở GD- ĐT tích cực triển khai ngay từ thời điểm học sinh phải nghỉ học dài ngày để phòng, chống dịch COVID- 19. Sở GD- ĐT chú trọng tập huấn giáo viên sử dụng cơ sở dữ liệu ngành, khai thác bài giảng E-learning trong quản lý và tổ chức dạy học trực tuyến. Nhờ đó, tỷ lệ học trực tuyến ở nhiều khối lớp đạt hơn 90%, tiến độ, chất lượng triển khai chương trình được bảo đảm theo kế hoạch. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên và học sinh có cơ hội tiếp cận các thiết bị công nghệ thông tin hiện đại, được thực hành nhuần nhuyễn các ứng dụng ôn luyện, truyền tải kiến thức, từ đó không bị bỡ ngỡ khi môi trường giáo dục đẩy mạnh áp dụng công nghệ số.
Cũng từ năm học 2019- 2020, Sở GD- ĐT thành phố chủ động triển khai các kênh thông tin giáo dục chính thức thông qua các trang mạng xã hội, như fanpage Cộng đồng giáo viên sáng tạo Hải Phòng; Cộng đồng học sinh, sinh viên sáng tạo Hải Phòng trên facebook với sự tham gia của hàng nghìn giáo viên và học sinh thành phố. Qua đó định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận trong xã hội về các chính sách, giải pháp phát triển giáo dục.
Khai thác hiệu quả cao cơ sở dữ liệu ngành
Hiện, Sở GD-ĐT thành phố thực hiện việc kết nối tổng thể các cơ sở giáo dục trên địa bàn thành phố với các cơ quan quản lý; đồng thời đánh mã định danh và số hóa thông tin hồ sơ của hơn 433 nghìn học sinh, hồ sơ của hơn 32 nghìn giáo viên thuộc 910 cơ sở giáo dục trên địa bàn toàn thành phố.
Từ đó, Hệ thống này hỗ trợ đắc lực công tác thống kê, báo cáo trong toàn ngành; giúp các cấp ban hành chính sách quản lý có hiệu quả cao, đánh giá hiện trạng thừa, thiếu giáo viên ở các nhà trường theo từng cấp học, địa phương, môn học, từ đó xây dựng lên bức tranh tổng thể toàn ngành giáo dục, xây dựng các Đề án đào tạo bồi dưỡng giáo viên, tăng cường cơ sở vật chất giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn 2030, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Luật Giáo dục 2019 và triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018.
Cô Vũ Thị Thảo, giáo viên lớp 3, Trường tiểu học Núi Đèo vui mừng cho biết: Cơ sở dữ liệu ngành giáo dục giúp chúng tôi quản lý thông tin lớp học, hồ sơ học sinh, năng lực, phẩm chất, điểm kiểm tra định kỳ, đồng thời lập các báo cáo tổng hợp hồ sơ học sinh, tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục một cách thuận tiện. Từ cách quản lý thông tin học sinh đến việc tổng hợp, báo cáo các hoạt động giáo dục với cơ quan quản lý một cách khoa học sẽ giúp chúng tôi lập giấy tờ, sổ sách khoa học hơn và có phương pháp giáo dục cụ thể, phù hợp với từng học sinh. Đặc biệt, thông qua cơ sở dữ liệu ngành, các bậc cha mẹ học sinh nắm bắt được thông tin, tình hình học tập, hoạt động tại trường, từ đó có sự phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong giáo dục con em”.
Theo Giám đốc Sở GD-ĐT thành phố Lê Quốc Tiến, nhờ ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, ngành GD-ĐT thành phố quản lý và triển khai các hoạt động thuận lợi hơn. Trong năm học 2020- 2021, Sở GD- ĐT thống kê được cụ thể, rõ ràng về tình hình học tập, dữ liệu về chiều cao, cân nặng của học sinh; tỷ lệ trẻ em bị béo phì dựa trên cân nặng, tỷ lệ trẻ mắc bệnh về mắt để cùng các ngành liên quan đưa ra những giải pháp cụ thể, nâng cao sức khỏe học đường. Thời gian tới, thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo xây dựng môi trường giáo dục thông minh của thành phố, ngành GD- ĐT tích cực hoàn thiện cơ sở hạ tầng mạng đồng bộ, thiết bị công nghệ thông tin thiết thực phục vụ dạy, học; hình thành kho học liệu mở dùng chung toàn ngành; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên giỏi về ứng dụng CNTT, bảo đảm an toàn thông tin.
Minh Khuê - Ảnh: Đỗ HiềnTừ năm học 2019- 2020, SởGD- ĐT thành phố chủ độngtriển khai các kênh thông tin giáo dục chính thức thông qua các trang mạng xã hội, như fanpage Cộng đồng giáo viên sang tạo Hải Phòng; Cộng đồng học sinh, sinh viên sáng tạo Hải Phòng trên facebook với sự tham gia của hàng nghìn giáo viên và học sinh thành phố. Qua đó định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận trong xã hội về các chính sách, giải pháp phát triển giáo dục.