Tránh chồng chéo, phân tán về chính sách

Đại biểu Mai Hồng Hải (Hải Phòng) phát biểu thảo luận chiều 1-11.
Thảo luận tại hội trường, các đại biểu Quốc hội cơ bản đồng tình về sự cần thiết xây dựng đề án; và cho rằng đề án đã được chuẩn bị bài bản, công phu, nghiêm túc; việc xây dựng đề án sẽ tạo sinh kế, tăng thu nhập cho người dân, giảm nghèo nhanh, bền vững; giải quyết căn bản một số yêu cầu bức thiết về đời sống của đồng bào các dân tộc; góp phần tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh; thu hẹp dần khoảng cách với vùng phát triển; xây dựng vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo chuyển biến lớn trong đầu tư phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn.
Một số đại biểu đánh giá, chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện có 118 văn bản chính sách còn hiệu lực, do nhiều cơ quan chủ trì xây dựng, quản lý, tổ chức thực hiện nên nguồn lực bị phân tán, dàn trải, khó lồng ghép, hiệu quả không cao, khó xác định rõ trách nhiệm.
Các đại biểu đề nghị đề án phải hướng đến mục tiêu chính là tích hợp các nội dung chính sách, thu gọn đầu mối quản lý. Theo đó, cần có giải pháp tổng thể, tập trung nguồn lực đầu tư phát triển toàn diện vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nhằm thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển và mức thu nhập của đồng bào so với cả nước.
Đồng tình 11 chính sách với 8 dự án thành phần của đề án, đại biểu Y- Khút-Niê (Đắk Lắk) đề nghị cần nghiên cứu, rà soát, điều chỉnh nội dung, thứ tự ưu tiên thực hiện chính sách, nhằm đem lại hiệu quả cao nhất khi đề án đi vào hoạt động, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Về kinh phí thực hiện đề án, đại biểu Y Khút-Niê cho rằng, giải pháp huy động mọi nguồn lực của toàn xã hội, trong đó sự vươn lên của người dân giữ vai trò quan trọng. Nguồn ngân sách nhà nước là quyết định nhưng việc huy động mọi nguồn lực đầu tư cần tập trung một đầu mối để điều chỉnh thống nhất từ trung ương đến địa phương, tránh mỗi bộ, ngành một đầu mối.
Theo tờ trình của Chính phủ, nước ta có 53 dân tộc thiểu số với hơn 14 triệu người, gần 3 triệu hộ, cư trú thành cộng đồng ở 51 tỉnh, thành phố, 548 huyện, 5266 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 382 xã biên giới, chủ yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ và Tây duyên hải miền Trung, chiếm 3/4 diện tích cả nước.
Làm rõ một số quy định trong dự thảo nghị quyết về khoanh, xóa nợ thuế
Dự thảo Nghị quyết về khoanh tiền nợ thuế, xóa tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước (gọi tắt là nghị quyết), các đại biểu tập trung thảo luận về một số nội dung còn có ý kiến khác nhau, như: sự cần thiết ban hành nghị quyết; nguyên tắc xử lý nợ; biện pháp xử lý nợ; và điều khoản thi hành; trách nhiệm chủ quan của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để xảy ra tình trạng nợ đóng thuế lớn, kéo dài qua nhiều năm; việc khoanh nợ, xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với các khoản nợ liên quan đến tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Bên cạnh đó, có ý kiến đề nghị cân nhắc việc xử lý tiền nợ thuế đối với các doanh nghiệp nhà nước; làm rõ tính thống nhất về một số khái niệm giữa dự thảo nghị quyết và Luật Quản lý thuế; xem xét tác động của nghị quyết đối với các đối tượng liên quan...
Đại biểu Mai Hồng Hải (Hải Phòng) nhất trí việc ban hành nghị quyết để xử lý các vấn đề phát sinh trong thực tế, tuy nhiên, đề nghị cần làm rõ khái niệm “tiền nợ thuế” và “tiền thuế nợ” để thể hiện trong phạm vi và đối tượng cho phù hợp. Luật Quản lý thuế năm 2019 có giải thích tại khoản 17 điều 3: “tiền thuế nợ” là thuế và các khoản thu khác hết thời hạn mà chưa nộp, nghĩa là bao gồm cả tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp, tiền phạt vi phạm hành chính; Luật không giải thích “tiền nợ thuế”, nhưng có thể hiểu đó là tiền thuế theo khoản 1 điều 3 đến hạn chưa nộp. Như vậy “tiền thuế nợ” bao gồm cả “tiền nợ thuế”, tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp, tiền phạt vi phạm hành chính. Đại biểu đề nghị rà soát quy định 2 khái niệm này trong nghị quyết cho chính xác, rõ ràng, tránh hiểu sai. Đại biểu cũng đề nghị xác định rõ trường hợp nào áp dụng nghị quyết, trường hợp nào áp dụng Luật Quản lý thuế 2019; làm rõ 3 mốc thời gian gồm: mốc 1 khi phát sinh thuế phải kê khai (gọi là phát sinh thuế); mốc 2, khi phát sinh nợ (là khi hết hạn nộp mà chưa nộp, gọi là phát sinh thuế nợ); mốc 3, khi có đủ điều kiện để xử lý nợ. Đại biểu cũng kiến nghị, khi đã giới hạn phạm vi xử lý là thuế nợ trước 1- 7- 2020 thì không nên quy định thời hạn thực hiện nghị quyết là 3 năm vì có thể sẽ vướng mắc khi thi hành. Ví dụ, thuế phát sinh tháng 5-2020, nhưng nợ kéo dài hơn 3 năm đến cuối năm 2023, nếu người nộp thuế chết, mất tích hoặc phá sản thì không có cơ chế để xử lý vì không thuộc phạm vi của Luật Quản lý thuế 2019, còn nghị quyết thì hết thời hạn./.