* Nhiều vấn đề nóng trong lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Công Thương được đề cập

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh trả lời chất vấn.
Tiếp tục phương châm hỏi nhanh, đáp gọn
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu khai mạc: Tại kỳ họp này, Quốc hội tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn đối với các vấn đề thuộc 4 lĩnh vực: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công Thương, Nội vụ, Thông tin và Truyền thông. Trách nhiệm trả lời chính thuộc các Bộ trưởng. Cùng tham gia trả lời, có các Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực và các Bộ trưởng, thủ trưởng các ngành liên quan. Cuối phiên chất vấn, Thủ tướng Chính phủ sẽ trực tiếp báo cáo, giải trình một số vấn đề thuộc trách nhiệm chung của Chính phủ và trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội. Phiên chất vấn được phát thanh và truyền hình trực tiếp trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Truyền hình Quốc hội Việt Nam để cử tri và nhân dân theo dõi, giám sát.
Chủ tịch Quốc hội cho biết, tại kỳ họp này, Quốc hội tiếp tục áp dụng cách thức tiến hành chất vấn như các kỳ họp trước, mỗi Bộ trưởng có 5 phút báo cáo trước phiên chất vấn; mỗi lượt chất vấn có từ 3 đến 5 đại biểu đặt câu hỏi, mỗi đại biểu hỏi 1 phút, Bộ trưởng trả lời không quá 3 phút đối với 1 nội dung chất vấn.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị các vị đại biểu Quốc hội nêu câu hỏi ngắn gọn, đúng phạm vi chất vấn; trong quá trình chất vấn, đại biểu có thể tranh luận khi thấy chưa thỏa đáng, thời gian tranh luận không quá 2 phút. Các thành viên Chính phủ, thủ trưởng các ngành trả lời thẳng thắn, đúng trọng tâm câu hỏi và có giải pháp, lộ trình cụ thể để thực hiện.
Chủ tịch Quốc hội tin tưởng,với sự chuẩn bị chu đáo của các cơ quan hữu quan, sự tích cực, chủ động của các vị đại biểu Quốc hội, phiên chất vấn sẽ diễn ra dân chủ, sôi nổi, đáp ứng được sự kỳ vọng của cử tri và nhân dân.
Khơi dậy sức dân để xây dựng nông thôn mới
Đại biểu Bùi Thanh Tùng, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng chất vấn: “Xin Bộ trưởng cho biết, bên cạnh những kết quả rất tự hào của 10 năm thực hiện chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới thì những khó khăn, thách thức lớn nhất hiện nay với chương trình này là gì? Bộ có giải pháp nào để tham mưu với Chính phủ tháo gỡ vấn đề này, đặc biệt là đối với những xã vùng sâu, vùng xa và những xã đã về đích nông thôn mới để duy trì kết quả đạt được?
Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp- Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường, có rất nhiều khó khăn trong chương trình xây dựng nông thôn mới, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa. Một là nguồn lực; thứ hai khi có nguồn lực rồi, còn khó khăn trong sự chỉ đạo, phương thức chỉ đạo, tổ chức sản xuất, duy trì văn hóa… Bộ trưởng cho biết, nguồn lực nhà nước hạn chế, trong khi phần dễ, phần thuận lợi làm được rồi thì phần khó khăn phải có phương thức chỉ đạo đúng, cụ thể là xác định rõ vai trò chủ thể người dân. Khi nhân dân được khuyến khích, có ý thức tự vươn lên thì đó mới là sức mạnh. Theo Bộ trưởng, sức dân rất lớn, làm sao khơi dậy được nội lực của dân, cùng với đó chính sách của nhà nước, là sự chỉ đạo của cả hệ thống chính trị đồng lòng thì thời gian tới sẽ khắc phục và giải quyết được khó khăn.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường trả lời chất vấn.
Gỡ nút thắt trong ứng dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp
Trả lời câu hỏi tiếp theo của đại biểu Bùi Thanh Tùng (Hải Phòng) về nút thắt, rào cản cơ bản trong việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vào lĩnh vực sản xuất, chế biến, bảo quản hay tiêu thụ nông sản và những định hướng, giải pháp để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả đầu tư của khoa học công nghệ cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng, giải pháp khoa học, công nghệ là then chốt và quyết định. Đất nước chúng ta chỉ có 10 triệu hecta đất, hơn 30 năm đổi mới đi từ chỗ đói đến chỗ đủ ăn, lại xuất khẩu được như thế này đó là nhờ giải pháp khoa học, công nghệ. Đến nay hội nhập quốc tế sâu rộng rồi, để làm giàu hơn nữa, giá trị gia tăng hơn nữa thì phải tập trung tháo nút thắt. Đó là tạo điều kiện để đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đầu tư vào nông nghiệp; xây dựng thành vùng nguyên liệu rộng hơn. Về giải pháp, theo Bộ trưởng, không có đường nào khác là phải thành lập các hợp tác xã mới để cùng với doanh nghiệp làm hạt nhân ứng dụng KHCN. Ví dụ như Sơn La, bây giờ là 386 hợp tác xã nông nghiệp, 800 hợp tác, dẫn đến cùng với doanh nghiệp trong 4 năm nâng diện tích cây ăn quả từ 20.000 hecta lên 72.000 hecta, lớn nhất cả nước, lớn bằng Tiền Giang, nhưng các khâu sản phẩm vẫn làm tốt, chuyển giao những giống nhãn tốt nhất lên đây đều được. Có kết quả đó là vì có doanh nghiệp hạt nhân, có tổ chức hợp tác xã, có chính quyền đứng lên. Từ đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đến các đồng chí lãnh đạo của Sơn La vào cuộc quyết liệt. “Bí thư đi dự tập huấn thì làm gì phong trào khoa học, công nghệ không vào”. Do đó, Bộ trưởng cho rằng, nút thắt ở đây là tổ chức sản xuất để hoàn thành hệ sinh thái trong khoa học công nghệ.
Trước đó, trả lời câu hỏi của đại biểu Phạm Thị Thu Trang (Quảng Ngãi) về giải pháp thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh vai trò hạt nhân trong liên kết sản xuất lớn. Trong 3 năm qua, số doanh nghiệp đầu tư trực tiếp vào nông nghiệp đã tăng 3 lần, từ hơn 3000 lên hơn 11.000 doanh nghiệp, trải đều khắp các vùng miền và các lĩnh vực, từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ nông sản; trong đó có nhiều doanh nghiệp lớn đầu tư vào lĩnh vực này để nâng giá trị sản xuất nông nghiệp,... Tuy nhiên con số này vẫn còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu, Bộ sẽ tiếp tục tập trung đẩy mạnh trong thời gian tới.
Không để lợi dụng chính sách để trục lợi
Đại biểu Phan Thái Bình (Quảng Nam) nêu vấn đề, thực hiện chính sách phát triển thủy sản theo Nghị định 67 của Chính phủ đã tạo điều kiện phát triển mạnh đội tàu đánh bắt có công suất lớn, chính sách hỗ trợ ngư dân đánh bắt xa bờ cũng mang lại hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, đến nay có 55 tàu, trong đó có đến 36 tàu vỏ thép dừng hoạt động, nhiều tàu không duy tu, bảo dưỡng, không thực hiện đăng kiểm trở lại khi hết thời hạn theo quy định, nợ xấu, nợ quá hạn gia tăng. Đồng thời, thời gian qua cũng xuất hiện tình trạng lợi dụng chính sách hỗ trợ đánh bắt xa bờ để trục lợi. Đại biểu đề nghị Bộ trưởng cho biết nguyên nhân của tình trạng trên, giải pháp nào để các tàu cá không tiếp tục dừng hoạt động và các ngân hàng có thể thu hồi được nợ; giải pháp nào để chấn chỉnh tình trạng lợi dụng chính sách để trục lợi…
Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết, Nghị định 67 Chính phủ ban hành năm 2014 trong bối cảnh Việt Nam rất cần ngư dân vươn ra các ngư trường xa để phát triển kinh tế cùng với bảo đảm quốc phòng- an ninh. Nhờ vậy, đã phát triển được 1.030 phương tiện, với công suất lớn từ 800 mã lực trở lên với 3 loại vật liệu: Sắt, composite và gỗ. Riêng tàu sắt, thì đây là loại hình đóng mới. Hiện nay có 358 chiếc, tương đương với 34,2%. Bộ trưởng đánh giá loại hình tàu sắt là phương tiện mới, quá trình đóng đã xảy ra 40 tàu bị hỏng hóc, trong đó có 21 chiếc của Bình Định. Hiện nay, còn 55 chiếc tàu đóng mới nằm bờ nhưng không ra khơi được do nhiều nguyên nhân như: Đánh bắt không hiệu quả, chủ tàu chết, một số chủ tàu không có điều kiện hoạt động, hay chủ tàu không tích cực tham gia. Các chủ tàu đến kỳ bảo dưỡng nhưng không đem đi bảo dưỡng.
Trước tình hình này, Bộ tham mưu, Thủ tướng có nhiều quyết sách. Chính phủ, Thủ tướng ban hành Nghị định 17, ai có đủ điều kiện ra khơi, có năng lực, tiềm lực, kinh nghiệm thì đóng tàu và Nhà nước hỗ trợ một lần với mức hỗ trợ tối đa 35 %. Từ năm 2018, chuyển hẳn sang dạng này, đến nay, có 30/40 tàu đóng xong, đi vào hoạt động và không xảy ra vấn đề gì.
Cho rằng cần phải đề phòng việc trục lợi chính sách, theo Bộ trưởng, phải thực hiện ngay Luật Thủy sản. Theo đó, ngư dân phải đăng ký thiết bị định vị hành trình để công khai, minh bạch, còn nếu không lắp định vị sẽ không được cấp phép ra khơi.
Cùng trả lời về vấn đề đại biểu nêu, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng cho biết, trong thời gian vừa qua, Ngân hàng nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiến hành cơ cấu lại thời hạn trả nợ, ưu tiên tập trung thu nợ gốc trước và nợ lãi sau, thực hiện cơ chế chuyển đổi chủ tàu. Tuy nhiên, trước tình hình nợ xấu còn phát sinh, Ngân hàng Nhà nước kiến nghị Thủ tướng yêu cầu các tỉnh, thành phố rà soát lại. Cụ thể, với trường hợp bất khả kháng, tiếp tục hỗ trợ để cơ cấu lại nợ; đối với trường hợp chây ỳ, tiến hành thu hồi nợ.
Phát triển bền vững ngành thủy sản
Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng cho biết, những năm qua ngành thủy sản Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ. Năm 2018, tổng sản lượng thủy sản đạt 7,7 tỷ USD, giá trị xuất khẩu đạt 9 tỷ USD. 10 tháng năm 2019, giá trị xuất khẩu đạt 7,1 tỷ USD. Với kết quả đó, Việt Nam trở thành nhóm nước có giá trị xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới. Sự phát triển của ngành thủy sản góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều việc làm mới, và góp phần nâng cao đời sống của người dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành thủy sản còn nhiều tồn tại, hạn chế và đứng trước nhiều khó khăn thách thức: Quy mô sản xuất còn chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu ngành thủy sản chưa hợp lý, hệ thống hạ tầng thuỷ sản còn lạc hậu, thiếu đồng bộ; vốn đầu tư cho hạ tầng thủy sản còn khó khăn; tổ chức sản xuất của ngành thủy sản chưa hiệu quả, chất lượng và giá trị gia tăng của ngành thủy sản còn thấp. Việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản chưa được chú trọng. Chính sách cho phát triển thủy sản (Nghị định 67) chưa hiệu quả.
Về giải pháp nhằm phát triển bền vững ngành thủy sản trong thời gian tới, Phó Thủ tướng khẳng định, yêu cầu đặt ra là: Phải phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam thành một ngành sản xuất hàng hóa có thương hiệu, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới trên cơ sở khai thác những tiềm năng, lợi thế từng vùng, từng địa phương; khắc phục những tồn tại, khó khăn, thách thức để phát triển bền vững ngành thủy sản, góp phần phát triển kinh tế xã hội, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của người lao động.
Từ mục tiêu đó, Chính phủ sẽ tập trung tái cơ cấu ngành thủy sản trên cơ sở đánh giá đầy đủ nhu cầu thị trường trong nước và thế giới; tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung và lập mới các quy hoạch theo Luật quy hoạch; xây dựng Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2045; rà soát lại các cơ chế chính sách hiện có để sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới các chính sách để hỗ trợ phát triển ngành thủy sản; tăng cường công tác kiểm soát quá trình đầu tư phát triển, khai thác, nuôi trồng, chế biến, bảo quản sản phẩm thủy sản nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả ầu tư các dự án hạ tầng, các dự án đóng mới tàu thuyền; đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm mở rộng thị trường cho sản phẩm thuỷ sản Việt Nam.
Phó Thủ tướng cũng nêu rõ, đoàn công tác của Uỷ ban Châu Âu EC sẽ trở lại Việt Nam để kiểm tra, xem xét có gỡ “thẻ vàng” cho Việt Nam hoặc nâng mức cảnh báo “thẻ đỏ”. Nếu không được gỡ thẻ vàng, thậm chí bị nâng mức cảnh báo “thẻ đỏ” sẽ ảnh hưởng lớn đến thị trường xuất khẩu của thuỷ sản Việt Nam và ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển của ngành thủy sản và nền kinh tế của Việt Nam và đời sống người dân. Do đó, ngoài những giải pháp dài hạn để phát triển ngành thủy sản Việt Nam, thời gian tới, các đại biểu Quốc hội tại các địa phương, đặc biệt là 28 tỉnh, thành phố ven biển hỗ trợ giúp đỡ trong công tác tuyên truyền, vận động, giám sát ngư dân, cùng với lãnh đạo các địa phương triển khai tốt các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả các khuyến nghị của EC, sớm gỡ thẻ vàng cho thuỷ sản Việt Nam, để từ đó góp phần nâng cao uy tín, thương hiệu cho thuỷ sản Việt Nam.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu kết thúc nhóm vấn đề thứ nhất.
Xử lý kiên quyết các hàng hóa có bản đồ có đường lưỡi bò
Đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) cho biết: Thời gian gần đây, nhiều trang báo đăng thông tin về việc cài cắm hình ảnh “đường lưỡi bò” của Trung Quốc vào hàng hóa ở Việt Nam (như quả địa cầu, ô tô gắn định vị, phim ảnh). Lực lượng hải quan phát hiện đã xử lý nhiều vụ. Đại biểu đặt câu hỏi về trách nhiệm của Bộ trưởng Công Thương trong việc rà soát để không tái diễn hình ảnh tương tự như trên làm ảnh hưởng đến người dân.
Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh cho biết: Đây là 1 hiện tượng mới xuất hiện, trước đó đã xuất hiện “đường lưỡi bò” trong một số sản phẩm văn hóa. Ngay sau khi xảy ra, Bộ tổ chức rà soát lại và đưa ra cách xử lý. Đối với ô tô triển lãm, sẽ tịch thu, sau đó có biện pháp phối hợp với các cơ quan chức năng để quản lý chặt chẽ trong tương lai, tránh bị lợi dụng. Đối với một doanh nghiệp khác thực hiện việc nhập khẩu và kinh doanh ô tô tại Việt Nam, đã nghiêm túc yêu cầu triệu tập doanh nghiệp và thu hồi toàn bộ ô tô được nhập khẩu vào Việt Nam mà có “đường lưỡi bò” trên phần mềm. Bộ cũng tạm thời dừng giấy phép kinh doanh nhập khẩu ô tô tại Việt Nam cho đến khi doanh nghiệp này phải thực hiên xong các phần trách nhiệm của mình.
Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh, qua đây cũng thấy rằng, có một lỗ hổng pháp lý của các bộ, ngành, trong đó có Bộ Công Thương, Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Thông tin truyền thông… Các bộ, ngành sẽ tiếp tục rà soát lại để bảo đảm không xảy ra những hiện tượng đó trong thời gian tới.
Kiên quyết hơn nữa với hàng hóa giả xuất xứ Việt Nam
Trước những băn khoăn và chất vấn của đại biểu Quốc hội về tình trạng hàng hóa giả xuất xứ Việt Nam để xuất khẩu đi nước thứ 3, theo Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh, Chính phủ rất chủ động để xây dựng những đề án lớn về phòng vệ thương mại và chống gian lận xuất xứ cũng như chống truyền tải bất hợp pháp cho các hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam với 5 nhóm nhiệm vụ phân công cho các bộ, ngành. Bộ Công thương cũng chủ động có các cơ chế, chính sách để thông báo kịp thời cho các Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng như các tỉnh, thành phố để quản lý chặt chẽ và kiến nghị để kiểm soát hoạt động đầu tư, tránh truyền tải bất hợp pháp. Bộ cũng lập danh sách các cảnh báo sớm về nguy cơ gian lận thương mại trong các mặt hàng, ví dụ như hiện nay có 25 mặt hàng xuất khẩu đi Hoa Kỳ và các nước khác đang có nguy cơ bị lợi dụng.
Để ngăn chặn tình trạng hàng nước ngoài đội lốt hàng Việt Nam để xuất khẩu đi nước khác, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nêu rõ, từ năm 2016, 2017, Bộ Công Thương và Chính phủ nhận thức rõ thách thức, nguy cơ về vấn đề này. Thực tế, vừa qua có doanh nghiệp đầu tư xuất khẩu nhôm tại Bà Rịa – Vũng Tàu sử dụng nguyên liệu nhôm nung, nhôm nguyên liệu khác để có xuất xứ Việt Nam khi xuất khẩu đi. Ngay thời điểm nhận thông tin, Bộ Công Thương tổ chức các đoàn kiểm tra đến làm việc với doanh nghiệp này, báo cáo với các cấp, ban ngành. Sau đó, Chính phủ chỉ đạo cụ thể, giao Tổng cục Hải quan tiếp tục giám sát chặt chẽ, không cho phép lợi dụng xuất xứ Việt Nam khi tham gia thương mại thế giới. Bên cạnh sản phẩm nhôm, theo Bộ trưởng, cũng có một số sản phẩm khác có hiện tượng lợi dụng xuất xứ Việt Nam như thiết bị điện tử, máy tính, dệt may, da giày, gỗ dán, sản phẩm gỗ...