Thông qua Nghị quyết về Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2020

Đại biểu Hoàng Quốc Thưởng (Đoàn Hải Dương) phát biểu tại hội trường.
Theo đó, tại Kỳ họp thứ 9 (năm 2020), Quốc hội xem xét các báo cáo của Chính phủ về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2019; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2020; báo cáo về quyết toán ngân sách nhà nước năm 2018; báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến Kỳ họp thứ 8 và các báo cáo khác của các cơ quan hữu quan theo quy định của pháp luật. Quốc hội tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội.
Cũng tại kỳ họp này, Quốc hội xem xét báo cáo giám sát chuyên đề “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em”; xem xét báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện kiến nghị giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội (nếu có).
Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội xem xét các báo cáo của Chính phủ về: Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 và kế hoạch 5 năm 2016-2020; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021; kết quả thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2020, dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2021; kết quả thực hiện kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia 2016-2020, kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020; kết quả thực hiện Nghị quyết số 24/2016/QH14 về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020; kết quả thực hiện Nghị quyết số 100/2015/QH13 phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020. Quốc hội cũng xem xét về công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác thi hành án; tình hình thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; báo cáo của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến Kỳ họp thứ 9.
Nhiều ý kiến về số lượng phó ban chuyên trách HĐND cấp tỉnh, Phó chủ tịch UBND cấp xã loại 2
Số lượng phó ban chuyên trách của HĐND cấp tỉnh, Phó chủ tịch UBND cấp xã loại 2 là một trong những nội dung nổi bật của dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương, được nhiều đại biểu quan tâm thảo luận sáng 10-6.
Trong tờ trình, Chính phủ xin ý kiến Quốc hội về việc giảm số lượng Phó chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện và giảm số lượng Phó trưởng ban chuyên trách của HĐND cấp tỉnh do quá trình xây dựng dự án luật còn có ý kiến khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất đề nghị giảm số lượng Phó chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện, Phó trưởng Ban chuyên trách của HĐND cấp tỉnh từ 2 người xuống còn 1 người. Loại ý kiến thứ hai đề nghị giữ nguyên số lượng 2 Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện, không quá 2 Phó trưởng ban chuyên trách của HĐND cấp tỉnh như quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương hiện hành. Chính phủ thống nhất với phương án 1. Tuy nhiên, thảo luận tại hội trường cho thấy còn có ý kiến băn khoăn về lựa chọn này.
Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Mạnh Cường cho rằng, dự thảo luật không cụ thể hóa được chủ trương của Nghị quyết 18, 19 về sắp xếp, đổi mới bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, chưa mang lại hiệu quả thiết thực cho việc thực hiện chủ trương của Đảng. Thậm chí, có nội dung đã được Quốc hội quy định, thì lần này lại bãi bỏ, giao Chính phủ quy định, như quy định số lượng cấp phó cấp vụ không quá 3 người, tổng cục không quá 4 người không được dự luật nhắc đến.
Giải trình, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân cho rằng, việc giao Chính phủ quy định khung của các cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh, huyện để khắc phục tình trạng giao “cứng” cơ quan chuyên môn. Cũng theo Bộ trưởng, quy định biên chế tối thiểu và số lượng cấp phó tối đa là nhằm khắc phục tình trạng “đẻ” quá nhiều cơ cấu tổ chức bên trong. Vì vậy, muốn thành lập cơ cấu tổ chức bên trong, phải có biên chế tối thiểu, tổ chức này phải thu gọn đầu mối trên cơ sở thực hiện đa nhiệm vụ, đa chức năng, giống như quy định bộ, ngành hiện nay quản lý nhà nước đa nhiệm vụ, đa chức năng.
Nguyên tắc đặt ra là phải bảo đảm giảm đầu mối, giảm biên chế, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước; không đặt vấn đề giảm biên chế, giảm tổ chức hoặc nhằm mục đích tăng tiền lương mà là thực hiện đồng bộ trong việc tinh gọn lại bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu tổ chức và hoạt động bộ máy hiệu lực.
Còn quan điểm trái chiều về hình thức kỷ luật giáng chức
Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức chiều 10- 6, nhiều đại biểu Quốc hội bày tỏ băn khoăn về việc nên giữ hay bỏ hình thức kỷ luật giáng chức đối với cán bộ, công chức.
Về vấn đề này Chính phủ đề xuất hai phương án, phương án 1 là bỏ hình thức kỷ luật giáng chức đối với công chức tại khoản 1 Điều 79 của luật hiện hành và bỏ quy định liên quan đối với hình thức này. Phương án 2 là giữ hình thức kỷ luật giáng chức trong luật.
Nghiêng về phương án 1, theo quan điểm của Chính phủ, không tiếp tục quy định hình thức kỷ luật giáng chức do nếu quy định hai hình thức giáng chức và cách chức thì dễ dẫn đến tình trạng nể nang. Bên cạnh đó, nếu giữ hình thức giáng chức thì không phù hợp với vị trí việc làm, vì đã xác định đủ số lượng lãnh đạo quản lý.
Nhất trí bỏ hình thức giáng chức, đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) cho rằng, hình thức này có khả năng áp dụng để bao che, hay cảm tính cho cán bộ bị kỷ luật. Thời gian qua, hình thức này có áp dụng nhưng không nhiều. Nếu cán bộ bị kỷ luật nặng đến mức cách chức thì phải cách chức, còn nhẹ hơn thì cảnh cáo. Việc kỷ luật bằng hình thức giáng chức không đủ tính răn đe, có thể dẫn đến việc nể nang, xử lý nhẹ hơn. Nếu cách chức qua thời hạn bị kỷ luật, cũng có thể bổ nhiệm lại, nếu đủ điều kiện. Về hình thức hạ bậc lương, đại biểu Phạm Văn Hòa đề nghị cân nhắc áp dụng luôn đối với công chức giữ chức vụ quản lý chứ không chỉ áp dụng riêng với người không giữ chức vụ.
Cũng có không ít ý kiến cho rằng cần giữ hình thức kỷ luật giáng chức. Bởi, về mặt pháp lý, quy định hình thức xử lý kỷ luật giáng chức đối với những người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý là cần thiết, mang tính răn đe cao và thực tế thời gian qua, căn cứ vào quy định này của Luật Cán bộ, công chức, hình thức kỷ luật giáng chức được áp dụng.
Một nội dung khác trong dự thảo luật được đại biểu thảo luận, đó là xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu. Nhiều đại biểu cho rằng, quy định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức nghỉ việc, nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác là phù hợp với thực tiễn, vì thời gian qua có nhiều trường hợp nghỉ việc, nghỉ hưu mới phát hiện sai phạm nhưng không xử lý kỷ luật được do vướng luật. Dự thảo bổ sung là cần thiết nhằm phòng ngừa, răn đe các cán bộ, công chức khi làm việc phải đề cao tinh thần trách nhiệm cá nhân, cơ quan, đơn vị không được sai phạm.
Giải trình ý kiến đại biểu, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân cho biết, qua báo cáo xử lý cán bộ, đến nay, Bộ Nội vụ chưa nhận được một hình thức nào xử lý giáng chức, chỉ có giáng cấp với lực lượng vũ trang. Ông đề nghị các đại biểu nghiên cứu thêm để có quy định mang tính khả thi về hình thức giáng chức. Về việc xử lý đối với cán bộ, công chức đã nghỉ hưu mà có vi phạm trong thời gian đương chức, Bộ trưởng cho biết, luật quy định đối với cả viên chức nếu có vi phạm trong thời gian còn công tác khi nghỉ hưu vẫn xem xét, xử lý bình đẳng như nhau. Bộ Nội vụ sẽ tiếp tục nghiên cứu thêm về vấn đề này để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và tính pháp lý của các hình thức xử lý kỷ luật sau khi đã thôi làm nhiệm vụ, nghỉ hưu.
Bảo đảm nguồn bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao từ nay đến năm 2020
Chiều 10-6, với 86,78% số đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 81/2014/QH13 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân.
Theo đó, Quốc hội quyết nghị bổ sung Điều 1a vào sau Điều 1 của Nghị quyết số 81/2014/QH13 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân. Điều 1a quy định việc áp dụng điểm a khoản 1 Điều 69 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014: “Kể từ ngày 10-6-2019 đến ngày 1-2-2022, cho phép Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trình Quốc hội xem xét, phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong đó có từ nguồn Thẩm phán cao cấp có đủ tiêu chuẩn, điều kiện luật định nhưng chưa đủ 5 năm làm Thẩm phán cao cấp”. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày thông qua (10-6).
Các đại biểu Quốc hội đều tán thành cao sự cần thiết phải ban hành, phạm vi điều chỉnh và nội dung dự thảo nghị quyết như báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp. Ngoài ra, có ý kiến đề nghị làm rõ hơn lý do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trình Quốc hội xem xét, thông qua nghị quyết theo thủ tục rút gọn và đề nghị bổ sung việc ban hành nghị quyết vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019. Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, việc thiếu nguồn bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là vấn đề cấp bách đang phát sinh trong thực tiễn thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, nếu không được giải quyết kịp thời, sẽ ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và việc kiện toàn lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin phép Quốc hội cho bổ sung nội dung này vào Chương trình kỳ họp và đã được Quốc hội biểu quyết thông qua ngày 6-6-2019. Do đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin Quốc hội cho phép ban hành nghị quyết này theo trình tự, thủ tục rút gọn theo “trường hợp cấp bách để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn” quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, những khó khăn trong việc thiếu nguồn bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chỉ phát sinh trong giai đoạn quá độ hiện nay khi chuyển giao giữa Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 với luật mới năm 2014. Từ năm 2022 trở đi, nguồn Thẩm phán cao cấp để bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được bảo đảm, đáp ứng được yêu cầu của công tác cán bộ. Vì vậy, từ năm 2022 trở đi sẽ không phải sửa Nghị quyết số 81 và cũng không cần thiết sửa đổi điểm a khoản 1 Điều 69 Luật Tổ chức TAND năm 2014. Đồng thời, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Tòa án nhân dân tối cao tăng cường công tác đào tạo, quy hoạch cán bộ để chủ động nguồn bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao cho các giai đoạn tiếp theo.
Theo TTXVN