Ngày làm việc thứ 17, kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa 14: Quốc hội phê chuẩn Hiệp định CPTPP

12/11/2018 21:55

*Thông qua nghị quyết điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020

Điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020

Với 434 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 89,48% tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội thông qua Nghị quyết điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016– 2020.

Nghị quyết xác định: điều chỉnh tăng tổng mức vốn nước ngoài kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 lên mức tối đa, đồng thời điều chỉnh giảm tương ứng vốn vay trong nước để đáp ứng yêu cầu giải ngân đối với những dự án sử dụng vốn nước ngoài; điều chỉnh giảm nguồn vốn cho các dự án quan trọng quốc gia; cho phép sử dụng nguồn dự phòng chung của Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 trên cơ sở bảo đảm khả năng cân đối vốn đầu tư của ngân sách nhà nước hằng năm và giữ mức trần đầu tư công.

Đối với vốn cân đối ngân sách địa phương: cho phép các địa phương được giao kế hoạch đầu tư công hằng năm nguồn vốn trong cân đối ngân sách địa phương trên cơ sở khả năng thu thực tế, bảo đảm không tăng mức bội chi của ngân sách địa phương hằng năm, triển khai tổng kết vào cuối kỳ Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Phó bí thư Thường trực Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng Nguyễn Thị Nghĩa chủ trì thảo luận tổ chiều 12- 11.

Giao HĐND các cấp quyết định phân bổ dự phòng Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 nguồn ngân sách địa phương của cấp mình bảo đảm các nguyên tắc, thứ tự ưu tiên phân bổ vốn quy định tại Luật Đầu tư công và Nghị quyết số 26/2016/QH14 của Quốc hội về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020.

Phê chuẩn Hiệp định CPTPP

100% số đại biểu tham gia biểu quyết tán thành phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương cùng các văn kiện liên quan (Hiệp định CPTPP). 

Nghị quyết giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và các tổ chức, cơ quan có liên quan theo thẩm quyền tiến hành rà soát các dự án luật tại Phụ lục 3 và các văn bản pháp luật khác để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới kịp thời, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và đúng lộ trình thực hiện các cam kết trong Hiệp định CPTPP.

Giao Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm phê duyệt và chỉ đạo các cơ quan, tổ chức có liên quan ở trung ương và địa phương triển khai kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực để bảo đảm tận dụng và phát huy các cơ hội, lợi ích mà Hiệp định CPTPP đem lại; đồng thời xây dựng, triển khai hiệu quả cao các biện pháp phòng ngừa và xử lý những tác động bất lợi có thể phát sinh trong quá trình thực hiện Hiệp định CPTPP; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy đủ nội dung Hiệp định để tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của hệ thống chính trị, doanh nghiệp và người dân về việc Việt Nam tham gia Hiệp định CPTPP. Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành có liên quan hoàn thành thủ tục phê chuẩn Hiệp định CPTPP và thông báo thời điểm có hiệu lực đối với ViệtNam.

Cần quy định cụ thể, bảo đảm sự nhất quán trong quản lý thuế

Tại tổ số 4 gồm Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng, Phú Thọ và Bình Định, khi thảo luận về Luật Quản lý thuế (sửa đổi), các đại biểu cho rằng, việc sửa đổi Luật Quản lý thuế ở thời điểm hiện nay là rất cần thiết để hoàn thiện thể chế quản lý thuế, thực hiện cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, tạo điều kiện phát triển các thành phần kinh tế; tiếp cận tới các chuẩn mực và thông lệ quốc tế để góp phần thu hút đầu tư trong nước, nước ngoài, tạo cơ sở để xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại trong điều kiện hội nhập; tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin cho công tác quản lý thuế, trong đó có việc áp dụng rộng rãi phổ biến quản lý thuế điện tử, giao dịch điện tử công khai, minh bạch; khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay đồng thời rà soát và thống nhất giữa Luật Quản lý thuế và các văn bản pháp luật có liên quan.

Tuy nhiên nhiều ý kiến đại biểu cho rằng, cần cân nhắc xem có nên đưa các khoản thu thuộc ngân sách nhà nước không do cơ quan quản lý thuế quản lý thu vào phạm vi điều chỉnh hay không. Bởi đây chủ yếu là nhiệm vụ giao cho Chính phủ. Theo đại biểu Mai Hồng Hải (Hải Phòng), nội dung về “các khoản thu thuộc ngân sách nhà nước không do cơ quan quản lý thuế quản lý thu” nên đưa vào Điều 14 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ cho đồng nhất. Về bố cục, đại biểu Mai Hồng Hải cơ bản thống nhất như dự thảo nhưng đề nghị cụ thể hóa một số điều mục, nhất là 3 điểm mới về hóa đơn chứng từ;  hỗ trợ người nộp thuế; hợp tác quốc tế về quản lý thuế. Đại biểu cũng bày tỏ sự tâm đắc về tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế. Đây là bộ phận luôn đồng hành với người nộp thuế, chia sẻ những vướng mắc, khó khăn. Tuy nhiên, trong dự thảo luật mới chỉ là một ý, chưa rõ, cần được cụ thể hóa để chính thức luật hóa một hoạt động có nhiều ý nghĩa trong thực tế.

Về xóa nợ thuế sau khi đã áp dụng các biện pháp, đại biểu Mai Hồng Hải đề nghị thời hạn xóa nợ là sau 5 năm sau khi đã thực hiện đầy đủ các biện pháp thay vì quy định 10 năm như dự thảo luật.

Quy định rõ ràng về độ cồn trong bia

Thảo luận về dự án Luật Phòng, chống tác hại của rượu bia, các đại biểu nhận định, tình hình sử dụng rượu, bia ở Việt Nam đang ở mức cao và có xu hướng gia tăng nhanh nên cần được kiểm soát để giảm mức tiêu thụ. Những ảnh hưởng bất lợi của sử dụng rượu, bia đối với sức khỏe, kinh tế - xã hội đang ngày càng gia tăng. Các đại biểu cho rằng, việc ban hành Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia sẽ giúp bảo vệ sức khỏe - vốn quý nhất của mỗi người dân, gia đình và xã hội, bảo vệ nguồn lực quý giá trong phát triển bền vững đất nước; giảm gánh nặng bệnh tật, tử vong do sử dụng rượu, bia gây ra; phòng ngừa và giảm bớt các hậu quả về xã hội (tai nạn giao thông, bạo lực gia đình, tội phạm, thương tích, an ninh trật tự, bất bình đẳng giới, đói nghèo) và gánh nặng kinh tế, khắc phục những hậu quả do sử dụng rượu, bia gây ra.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét, bổ sung cả nội dung về biện pháp giảm nhu cầu tiêu thụ rượu, bia vào phạm vi điều chỉnh của dự thảo luật. Bởi, “cung” và “cầu” có mối quan hệ mật thiết với nhau, nếu chỉ điều chỉnh một vế hiệu quả sẽ không cao, và không thể kiểm soát được tình hình tiêu thụ rượu, bia như mong muốn.

Đại biểu Bùi Thanh Tùng (Hải Phòng) đồng tình với tên gọi của dự thảo luật và giải thích thêm, ban hành luật này không có nghĩa là cấm hoàn toàn mà theo hướng chủ động phòng ngừa, giảm tác hại. Theo đại biểu, một số loại bia độ cồn thấp có tác dụng tốt cho sức khỏe, nhất là với người lao động nặng nhọc. Do đó, trong dự thảo luật, nên quy định rõ ràng về  độ cồn bao nhiêu thì không nên khuyến khích. Đại biểu cho rằng, muốn giảm bia độ cồn cao, tăng bia độ cồn thấp phải có cơ chế khuyến khích sản xuất, nhất là bia có độ cồn dưới 3,5 độ.

Đại biểu Bùi Thanh Tùng cũng đề nghị quy định rõ về ranh giới giữa sản xuất rượu thủ công để phục vụ mục đích kinh doanh và để dùng để bảo đảm tính khả thi khi người dân ở vùng cao, vùng nông thôn tự nấu rượu để dùng khá nhiều và phổ biến.

Đại biểu Nghiêm Vũ Khải (Hải Phòng) đề nghị phải có chính sách khuyến khích sản xuất sản phẩm rượu, bia phù hợp và có lợi cho sức khỏe con người. Đồng thời  xây dựng văn hóa sử dụng rượu, bia; nghiên cứu đưa quy định về phòng, chống nghiện rượu vào luật.Theo đại biểu, sản xuất và chế biến và bán rượu là một ngành kinh tế. Cần xem xét tại sao nước ta  lại là thị trường tiêu thụ nhiều loại rượu nhập ngoại đắt tiền mà chưa chú trọng  phát triển sản xuất  loại rượu của quốc gia để đủ tiêu chuẩn xuất khẩu.

Cần luật hóa thẩm quyền quyết định danh mục đầu tư công

Đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đầu tư công, tại phiên thảo luận tổ, phần đông ý kiến đại biểu đều nhất trí với đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công. Theo đó, sau 3 năm thực hiện, Luật Đầu tư công bộc lộ một số bất cập, hạn chế, nhất là về quy trình, thủ tục thẩm định nguồn vốn đang gây khó khăn, kéo dài thời gian, chậm tiến độ giải ngân vốn. Một số ý kiến đại biểu đề nghị, trong lần sửa đổi này, dự án luật cần tập trung sửa đổi nội dung cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp trong thẩm định nguồn vốn; thẩm định; phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, điều chỉnh dự án. Bên cạnh đó, cần luật hóa cụ thể thẩm quyền quyết định danh mục đầu tư công, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn, hằng năm, về sử dụng nguồn dự phòng kế hoạch đầu tư công trung hạn; sửa đổi quy định về đánh giá tác động sơ bộ về môi trường trong giai đoạn quyết định chủ trương đầu tư liên quan đến Luật Bảo vệ môi trường.

Đại biểu  Nghiêm Vũ Khải (Hải Phòng) cho rằng đây là đạo luật rất quan trọng nên các nguồn lực công mang ra đầu tư luật phải bao quát hết. Theo đại biểu, mục tiêu đặt ra rất hợp lý. Tuy nhiên, dự án luật tổng thể có 105 điều với nội dung lớn như vậy thì luật mới ở mức độ quy định chung chung, cần cụ thể hơn.

Đại biểu Nghiêm Vũ Khải cũng nêu ý kiến: Điều 31 sửa đổi điều 25 của Luật Bảo vệ môi trường về tổng thể là sự thụt lùi. Theo đó, từ quy định các dự án phải đánh giá tác động môi trường lại chuyển sang chỉ phải đánh giá sơ bộ về môi trường trước khi thực hiện, như thế chưa bảo đảm. Đại biểu cho rằng, các dự án đầu tư Nhà nước càng phải là tấm gương sáng về thực hiện các quy định về môi trường.

Đại biểu cho biết, Điều 46 của Luật Khoa học công nghệ quy định, các chương trình dự án đầu tư từ ngân sách Nhà nước phải có mục chi cho khoa học công nghệ. Nhưng trong dự thảo Luật Đầu tư công sửa đổi  chỉ có một quy định là phân tích về công nghệ theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ. Theo đại biểu, như vậy mới chỉ tính tới yếu tố kinh tế nhiều hơn,  còn xem nhẹ môi trường, công nghệ thì chưa tương xứng.

Các đại biểu còn tập trung cho ý kiến về một số nội dung khác của luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đầu tư công như: phân loại các nguồn vốn đầu tư công và quy trình, thủ tục với từng loại nguồn vốn đầu tư công; về tiêu chí phân loại dự án đầu tư quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C; về thẩm quyền, quy trình lập, phê duyệt và giao kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm; bổ sung quy định Kế hoạch đầu tư công trung hạn 3 năm; về nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND (Điều 88)...

Xem xét Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi) theo quy trình 3 kỳ họp         

Thảo luận tổ về dự án Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi), các đại biểu cho rằng, đây là lần đầu chế định pháp nhân thương mại được quy định trong dự án luật. Do vậy, nhiều ý kiến cho rằng, cần có đánh giá cụ thể về tính khả thi của việc thi hành từng loại hình phạt đối với pháp nhân thương mại, trong đó có đánh giá hậu quả pháp lý của việc cưỡng chế thi hành án đối với pháp nhân thương mại. Một vấn đề khác khiến nhiều đại biểu còn băn khoăn đối với dự án luật này là có tới 13 điều giao cho Chính phủ quy định chi tiết. Mặc dù, hồ sơ dự án luật đã bổ sung một số dự thảo văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn nhưng về cơ bản, các dự thảo này còn hình thức, nội dung chưa đáp ứng yêu cầu. Thậm chí, có dự thảo văn bản hướng dẫn nội dung không phù hợp với phạm vi điều chỉnh của dự thảo luật. Bên cạnh đó, với nhiều điều khoản phải chờ văn bản hướng dẫn, trong đó có những nội dung quan trọng như toàn bộ thủ tục cưỡng chế thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại đều giao Chính phủ quy định. Nhiều ý kiến lo ngại rằng, điều này có thể dẫn tới nếu luật được thông qua thì những nội dung quan trọng cũng chưa thể thi hành được.  

Theo đại biểu Bùi Thanh Tùng (Hải Phòng),  Luật Thi hành án hình sự qua một quá trình rất dài có nhiều thành công nhưng bộc lộ nhiều hạn chế cần tháo gỡ. Từ thực tế địa phương khi tiếp công dân, tiếp nhận đơn thư khiếu nại, đại biểu thấy  còn nhiều vấn đề liên quan tới thi hành án dân sự. Giữa Luật Thi hành án hình sự và Luật Thi hành án dân sự có những khoảng trống. Do đó, đại biểu đề nghị nên  xem xét sửa đổi Luật Thi hành án hình sự, không chỉ sửa đổi một số điều mà sửa tổng thể và phải xem xét một cách kỹ lưỡng, nhất là liên quan tới trình tự thủ tục chi tiết của việc cưỡng chế thi hành án, mối quan hệ giữa thi hành án với các quy trình xét xử từ sơ phẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm cũng như kháng nghị của Viện Kiểm sát  các cấp. Theo đại biểu, cần nghiên cứu kỹ lưỡng, cân nhắc tính toán để khi ban hành luật đạt hiệu quả cao, những vướng mắc được tháo gỡ và đặt trong tổng thể các  luật khác liên quan. Đại biểu đề nghị xem xét dự án luật này theo quy trình  tại 3 kỳ họp.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Ngày làm việc thứ 17, kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa 14: Quốc hội phê chuẩn Hiệp định CPTPP