Phát huy sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia

Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá 14, ngày 21-5-2020.
Trong phiên làm việc buổi sáng, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ngô Xuân Lịch trình bày Tờ trình về dự án Luật Biên phòng ViệtNam. “Quá trình soạn thảo dự án luật, Bộ Quốc phòng tổ chức lấy ý kiến 19 bộ, ngành, UBND các tỉnh biên giới; tổ chức khảo sát, tọa đàm, hội thảo tại 3 khu vực (miền Bắc, miền Trung, miền Nam) với sự tham gia của đại diện các bộ, ngành trung ương, Đoàn đại biểu Quốc hội, HĐND, UBND, các sở, ban, ngành 17 tỉnh có biên giới, các đơn vị lực lượng vũ trang trên địa bàn”, Đại tướng Ngô Xuân Lịch thông tin.
Trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Biên phòng ViệtNam, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội Võ Trọng Việt cho biết, Ủy ban cơ bản nhất trí về sự cần thiết ban hành Luật Biên phòng ViệtNam. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, một số nội dung của dự án luật chưa thống nhất, trùng lặp nội dung được quy định trong Luật Biên giới quốc gia, đồng thời chưa quán triệt, thể chế hóa đầy đủ quan điểm tại Nghị quyết số 33-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia.
Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu các ý kiến trên, rà soát, chỉnh lý về nội dung, kỹ thuật văn bản để quy định chặt chẽ, chính xác, bảo đảm thống nhất ngay trong dự thảo luật và với pháp luật có liên quan.

Đại biểu Lã Thanh Tân (Đoàn Hải Phòng) phát biểu ý kiến thảo luận dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Giám định tư pháp.
Đánh giá kỹ việc quy định doanh nghiệp có tỷ lệ vốn nhà nước chiếm giữ trên 50% là doanh nghiệp nhà nước
Tiếp đó, Quốc hội tiến hành thảo luận trực tuyến về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của Luật Doanh nghiệp (sửa đổi). Các đại biểu tại hội trường Diên Hồng và đại biểu phát biểu từ các điểm cầu đều bày tỏ nhất trí cao với báo cáo giải trình, tiếp thu về sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực thi pháp luật. Qua đó, tiếp tục hoàn thiện thể chế, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp; nâng cao chất lượng tổ chức quản trị doanh nghiệp, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cổ đông, nhà đầu tư khi tham gia đầu tư kinh doanh tại doanh nghiệp.
Đối với quy định DNNN là doanh nghiệp có trên 50% vốn góp hoặc cổ phần chi phối của nhà nước, đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết (Đoàn An Giang) nêu ý kiến Ban soạn thảo cần cân nhắc, đánh giá kỹ lưỡng việc quy định tỷ lệ vốn nhà nước chiếm giữ trên 50% là doanh nghiệp nhà nước. Quy định này chưa thể hiện được vai trò chi phối và quyết định của nhà nước với các vấn đề quan trọng, bảo đảm quyền hài hòa, đóng góp của các cổ đông khác.
Trong khi đó, đại biểu Trần Văn Tiến (Đoàn Vĩnh Phúc) cho rằng, việc sửa đổi về khái niệm DNNN như dự thảo sẽ liên quan đến nhiều luật, nghị quyết của Quốc hội. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung phải bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật ViệtNam. Đại biểu Tiến đề nghị, Ban soạn thảo cần xác định hiện tại số DNNN mà nhà nước đang nắm giữ 50% vốn sở hữu trở lên; có đánh giá tác động cụ thể các đối tượng chịu tác động trực tiếp; phải bảo đảm nguyên tắc không tác động xấu, ảnh hưởng đến tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; bảo đảm công khai minh bạch, phân biệt rạch ròi quản lý nhà nước và quản trị doanh nghiệp, không để thất thoát vốn nhà nước, quy định rõ chế tài chức vụ chức danh của cán bộ quản lý trong DNNN.
Cân nhắc kỹ việc đưa hộ kinh doanh vào dự thảo Luật doanh nghiệp
Ủng hộ không đưa hộ kinh doanh vào dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi), đại biểu Dương Minh Tuấn (Đoàn Bà Rịa - Vũng Tàu) nêu: Cả nước có hơn 5 triệu hộ kinh doanh, trong đó 3,5 triệu hộ được cấp mã số thuế, hơn 2 triệu hộ sản xuất nhỏ lẻ, ước tính tổng tài sản 655 nghìn tỷ đồng, giải quyết việc làm gần 8 triệu lao động… Đây là loại hình rất cần được nâng cấp quản lý từ nghị định lên thành luật riêng để có địa vị pháp lý cao hơn. Đại biểu cho rằng, hộ kinh doanh có nhiều khác biệt với doanh nghiệp khi chủ yếu hoạt động theo truyền thống gia đình, quy mô nhỏ lẻ, vì vậy tách các quy định với hộ kinh doanh ra thành luật riêng để quản lý thì sẽ chặt chẽ, hiệu quả hơn.
Cùng quan điểm, đại biểu Phạm Thị Thu Trang (Đoàn Quảng Ngãi) cho rằng, khi hộ kinh doanh phát triển thành doanh nghiệp sẽ quản lý theo Luật Doanh nghiệp, qua đó đơn giản hóa công tác quản lý, tránh chồng chéo, lúng túng trong thực hiện khi được quy định trong luật chung. Đại biểu Nguyễn Anh Trí (Đoàn Hà Nội) đề nghị sớm xem xét ban hành luật riêng đối với hộ kinh doanh để tạo sự bình đẳng cho các hộ kinh doanh và nâng cao hiệu quả quản lý.
Ngược lại, không ít đại biểu ủng hộ việc đưa quy định về hộ kinh doanh thành một chương trong Luật Doanh nghiệp. Đại biểu Phan Thái Bình (Đoàn Quảng Nam) cho rằng, xét về bản chất, vấn đề này chỉ là việc bổ sung, hoàn thiện, cụ thể hóa các quy định chung đã có về hộ kinh doanh. Bên cạnh đó, việc quy định hộ kinh doanh trong dự thảo luật có tác động tích cực, xóa bỏ hạn chế về thương quyền và nâng cao địa vị pháp lý của hộ kinh doanh. Theo đại biểu Vũ Tiến Lộc (Đoàn Thái Bình), các loại hình được quy định trong luật bao gồm cả pháp nhân và cá nhân, do đó, đưa hộ kinh doanh vào luật là hoàn toàn phù hợp. Đồng tình với ý kiến trên, đại biểu Trần Văn Lâm (Đoàn Bắc Giang) cho rằng, việc quy định về hộ kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp sẽ bảo đảm quyền bình đẳng giữa các loại hình, chủ thể kinh doanh hiện có…
Phát biểu kết thúc nội dung thảo luận, Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đề nghị các đại biểu Quốc hội còn ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) gửi văn bản góp ý cho Ban Thư ký. Trên cơ sở ý kiến thảo luận tại phiên họp, cũng như các ý kiến góp ý gửi về, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ chỉ đạo Ủy ban thẩm tra tiếp thu, giải trình đầy đủ trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua.
_900x600.jpg)
Đại biểu Mai Hồng Hải phát biểu ý kiến.
Cải thiện chất lượng nguồn nhân lực đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Buổi chiều, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung trình bày Tờ trình về dự án Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi). Theo nội dung tờ trình: Từ năm 2006, Quốc hội khóa 11 ban hành Luật số 72/2006/QH11 về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Kể từ khi có luật, số lượng người lao động đi làm việc ở nước ngoài hằng năm tăng đáng kể, trung bình mỗi năm có hơn 80.000 người, đặc biệt trong 5 năm gần đây, mỗi năm có hơn 130.000 người.
Bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn đặt ra các yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện một số quy định của Luật số 72/2006/QH11 để tạo môi trường minh bạch, thông suốt và đồng bộ cho hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; bảo đảm tương thích giữa pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với pháp luật có liên quan của các quốc gia tiếp nhận lao động, các công ước quốc tế có liên quan đến lao động di cư.
Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án luật nêu trên, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Thúy Anh cho biết, nội dung và chất lượng của hồ sơ cần được quan tâm tiếp thu, giải trình thấu đáo. Trong đó, cần định hướng rõ việc phát triển hoạt động về lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong bối cảnh lực lượng lao động gia nhập thị trường lao động có xu hướng ngày càng giảm. Đồng thời, luật phải hướng đến nhiệm vụ đổi mới dạy nghề, đào tạo nghề có định hướng đến các thị trường, ngành nghề có mức lương cao, ổn định, an toàn; nâng cao hình ảnh người lao động Việt Nam khi tham gia vào thị trường lao động tại các nước trên thế giới.
Phát biểu thảo luận Luật Doanh nghiệp (sửa đổi), đại biểu Mai Hồng Hải (Đoàn Hải Phòng) đồng tình cao với báo cáo giải trình, đồng thời góp ý kiến làm rõ thêm nhiều vấn đề trong dự thảo luật.
Về DNNN, đại biểu Mai Hồng Hải đặt vấn đề, việc dự thảo luật quy định: DNNN bao gồm cả DN do nhà nước nắm trên 50% vốn thì có phù hợp không, và tỷ lệ này bảo đảm chi phối chưa ? Cần phân biệt rõ sự khác nhau giữa “DNNN” về hình thức và “DN của nhà nước” về sở hữu.
Xét về tổng thể, việc sửa đổi luật DN hướng đến đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với DN nói chung, chặt chẽ hơn trong quản lý DNNN là phù hợp yêu cầu thực tiễn. Đại biểu đề nghị bổ sung điều khoản về nguyên tắc Nhà nước quản lý DNNN thông qua người đại diện, thậm chí kể cả phần vốn nhà nước ở các DN mà Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn (đây là phương thức đang thực hiện). Đồng thời phân cấp làm rõ trách nhiệm các tổ chức, cá nhân trong quản lý, điều hành DNNN ở luật này và Luật 69 - Quản lý vốn và tài sản Nhà nước đầu tư vào DN.
Đại biểu Mai Hồng Hải cho rằng, Nhà nước nắm giữ 50% vốn là có quyền chi phối nhiều vấn đề quan trọng của doanh nghiệp, bảo đảm lợi thế quyết định, nhất là hợp đồng kinh doanh nên tỷ lệ trên 50% là phù hợp. Tuy vậy, để xác định căn cứ, cần tiến hành rà soát số lượng DNNN mà Nhà nước đang nắm giữ 50% vốn sở hữu trở lên, đánh giá rõ tác động, tiến trình cổ phần hóa, thu hút vốn từ tư nhân...
Về vấn đề có nên quy định hộ kinh doanh (KD) trong Luật DN, theo đại biểu Mai Hồng Hải là không nên, vì hộ kinh doanh là loại hình kinh doanh nhưng không phải DN. Điều quan trọng là dự thảo chưa có các chính sách mới khơi dậy, tạo động lực đối với hộ kinh doanh hoạt động và phát triển, thậm chí phát triển thành DN.
Tranh luận sôi nổi việc lập Phòng Kỹ thuật hình sự thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Cũng trong phiên làm việc buổi chiều, Quốc hội nghe báo cáo tóm tắt giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp (GĐTP) và thảo luận về nội dung này.
Liên quan đến quy định tại dự thảo Luật GĐTP về quy định bổ sung chức năng giám định tư pháp cho “Phòng Kỹ thuật hình sự thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao” nhiều đại biểu bày tỏ ủng hộ đề xuất và cho rằng, việc bổ sung quy định này sẽ góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu giám định âm thanh, hình ảnh thu thập trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.
Phát biểu thảo luận Luật GĐTP, đại biểu Lã Thanh Tân (Đoàn Hải Phòng) bày tỏ tán thành với nội dung dự thảo luật và báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý, sửa đổi.
Tham gia ý kiến vào nội dung về điều kiện thành lập văn phòng GĐTP, đại biểu cho rằng để bảo đảm chất lượng hoạt động GĐTP, cần đặt ra yêu cầu giám định viên đề nghị thành lập văn phòng GĐTP phải có đủ kinh nghiệm, có năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng trong lĩnh vực GĐTP.
Về quyền của tổ chức được trưng cầu, yêu cầu GĐTP cần quy định cụ thể về “điều kiện cần thiết” cho việc thực hiện giám định là những điều kiện như thế nào? Bởi thực tế hiện nay, hầu hết giám định viên tư pháp do các sở, ngành chuyên môn cấp tỉnh cử, kiêm nhiệm thực hiện giám định mà không có giám định viên chuyên trách.
Đại biểu đề nghị dự thảo luật làm rõ về nghĩa vụ của tổ chức được trưng cầu, yêu cầu GĐTP và xem xét, bổ sung quy định trách nhiệm của giám định viên tư pháp.
Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Thị Xuân (Đoàn Đắk Lắk), có quan điểm khác khi cho rằng: GĐTP là lĩnh vực kỹ thuật chuyên biệt, đòi hỏi chuyên môn cao, quá trình đào tạo kỹ thuật viên giám định đòi hỏi khá nghiêm ngặt. “Hiện nay, Bộ Công an có Viện Kỹ thuật hình sự; Công an các tỉnh, thành phố có Phòng Kỹ thuật hình sự đang đáp ứng nhu cầu về giám định, bảo đảm kịp thời, nhanh chóng. Bên cạnh đó, Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan chức năng thực hành quyền công tố, không có chức năng nhiệm vụ về GĐTP. Hơn nữa, vừa thực hiện quyền công tố vừa thực hiện giám định có bảo đảm tính khách quan, công minh hay không, chưa kể thành lập tổ chức này phát sinh thêm biên chế, phải đầu tư trang thiết bị, kinh phí đào tạo...”.
Tranh luận ý kiến trên, đại biểu Nguyễn Mai Bộ (Đoàn An Giang) nêu: Vấn đề ở đây không phải là quá tải, mà việc bổ sung cơ quan giám định Viện Kiểm sát nhân dân tối cao là xuất phát từ yêu cầu phòng tránh oan sai trong hoạt động điều tra, xét xử. “Đặt giả định những âm thanh, hình ảnh được cơ quan Công an giám định, nay mới phát hiện ra có vấn đề. Trong trường hợp đó, nếu lại giao cơ quan công an giám định lại kết quả như thế nào”./.
Minh Khôi - Ảnh: Đỗ Hiền