Hòa giải, đối thoại mang lại nhiều lợi ích cho các bên

Quang cảnh phiên thảo luận ở hội trường về dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình giải trình ý kiến của đại biểu Quốc hội.
Thảo luận về dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, nhiều đại biểu cho rằng, hòa giải, đối thoại đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là nhu cầu và đòi hỏi của xã hội để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống. Hòa giải thành, đối thoại thành giúp giải quyết triệt để, hiệu quả cao các tranh chấp mà không phải mở phiên tòa xét xử, kết quả hòa giải thành, đối thoại thành phần lớn được các bên tự nguyện thi hành, vụ việc không phải trải qua thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm theo quy định của luật tố tụng; tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của các bên liên quan và Nhà nước; hạn chế tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc trong dư luận. Với Tòa án, đổi mới, tăng cường và nâng cao hiệu quả hòa giải, đối thoại là giải pháp căn cơ, giúp giải quyết khối lượng công việc ngày càng nặng nề, trong bối cảnh hằng năm các tranh chấp, khiếu kiện không ngừng tăng lên cả về số lượng và tính chất phức tạp.
Đại biểu Nguyễn Thị Thủy (Bắc Kạn) tiếp cận dưới góc độ tiết kiệm cho ngân sách cho biết, chi phí để mở một phiên tòa sơ thẩm là 5,5 triệu đồng, trong khi chi phí 1 vụ hòa giải là 1,2 triệu đồng. Với gần 40.000 vụ hòa giải thành công trong thời gian thí điểm vừa qua, tiết kiệm cho ngân sách nhà nước gần 132 tỷ đồng. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nhiều nước quy định không thu phí hòa giải; có nước quy định mức thu thấp hơn nhiều so với án phí xét xử. Nhấn mạnh hòa giải, đối thoại tại Tòa án cần được xem là bước đi ưu tiên trong phát triển tư pháp dân sự ở nước ta thời gian tới, đại biểu Nguyễn Thị Thủy cho rằng, trước mắt chưa nên quy định việc thu phí hòa giải đối thoại tại Tòa án.
Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Tạo (Lâm Đồng) lại lo ngại, đối với những tranh chấp phức tạp phát sinh qua nhiều hình thức hòa giải tư vấn rồi mới đến khởi kiện tại Tòa án, giai đoạn hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án có thể trở thành nhiêu khê, kéo dài thời gian tranh chấp, tốn kém về thời gian, tiền bạc của các bên. Trường hợp không quy định khéo sẽ làm phát sinh các chi phí, giảm khả năng hòa giải. Do đó cần xem xét kỹ về tính minh bạch của các quy định về tiêu chí, điều kiện để tiến hành giai đoạn hòa giải, đối thoại tại Tòa án, trong đó điều kiện tiên quyết là có sự đồng thuận, tự nguyện của các đương sự và đây không phải giai đoạn bắt buộc trước khi thụ lý đối với tất cả vụ việc hành chính, dân sự.
Đại biểu Tạ Minh Tâm (Tiền Giang) kiến nghị bổ sung nguyên tắc hòa giải viên, tổ chức, cá nhân tham gia hòa giải tuân thủ quy định của luật này; bổ sung chính sách nhà nước bảo đảm quyền, lợi ích của các bên liên quan tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án, bổ sung quy định về thông tin công bố đánh giá kết quả hoạt động của hòa giải viên để các bên đương sự có thêm cơ sở lựa chọn hoặc từ chối hòa giải viên…

Với 449/453 đại biểu Quốc hội tán thành (chiếm tỷ lệ 92,96%), Quốc hội thông qua dự án Luật Lực lượng dự bị động viên (ảnh minh họa).
Chốt độ tuổi quân nhân dự bị động viên trong thời bình
Với 449/453 đại biểu Quốc hội tán thành (chiếm tỷ lệ 92,96%), Quốc hội thông qua dự án Luật Lực lượng dự bị động viên.
Luật Lực lượng dự bị động viên gồm 5 chương, 41 điều, quy định về xây dựng, huy động lực lượng dự bị động viên; chế độ, chính sách và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xây dựng, huy động lực lượng dự bị động viên. Theo luật, độ tuổi quân nhân dự bị sắp xếp vào đơn vị dự bị động viên trong thời bình (điều 17) quy định như sau: nam quân nhân chuyên nghiệp dự bị không quá 40 tuổi; hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị không quá 35 tuổi được sắp xếp vào đơn vị chiến đấu; nam quân nhân chuyên nghiệp dự bị và hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị không quá 45 tuổi; nữ quân nhân dự bị không quá 40 tuổi được sắp xếp vào đơn vị bảo đảm chiến đấu. Luật quy định rõ 4 trường hợp huy động dự bị động viên; 5 hành vi bị nghiêm cấm trong xây dựng, huy động lực lượng dự bị động viên và nhiều vấn đề khác liên quan.
Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2020.
Sở Giao dịch chứng khoán 100% vốn nhà nước
Với đa số đại biểu tán thành, Quốc hội thông qua Luật Chứng khoán (sửa đổi) gồm 10 chương, 135 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1- 1- 2021. Luật quy định, trong điều kiện thị trường đang phát triển và đang sắp xếp, củng cố tổ chức, bộ máy như hiện nay, Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn nhà nước là cần thiết.

Biểu quyết thông qua Luật Chứng khoán (sửa đổi).
Về mô hình và tổ chức của Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam, Luật Chứng khoán (sửa đổi) quy định, trước mắt chưa thể thực hiện ngay việc cơ cấu lại, sáp nhập 2 sở giao dịch chứng khoán hiện nay thành một sở giao dịch chứng khoán duy nhất, mà theo hướng phân định lại chức năng, nhiệm vụ của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh để tổ chức, vận hành các thị trường chứng khoán riêng biệt, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của 2 tổ chức trên. Theo đó, toàn bộ giao dịch trái phiếu và chứng khoán phái sinh sẽ được thực hiện tại sàn giao dịch chứng khoán (SGDCK) Hà Nội, toàn bộ giao dịch cổ phiếu sẽ được thực hiện tại SGDCK thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó sẽ tiến tới thống nhất 1 hệ thống chỉ số giao dịch.
Chính phủ lựa chọn nhà đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành
Với 435/455 đại biểu Quốc hội tán thành, Quốc hội thông qua Nghị quyết về Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1 (gọi tắt là Báo cáo).
Theo đó, Quốc hội thông qua một số nội dung chủ yếu của Báo cáo như: đầu tư xây dựng 1 đường cất hạ cánh và 1 nhà ga hành khách cùng các hạng mục phụ trợ đồng bộ với công suất 25 triệu hành khách/năm, 1,2 triệu tấn hàng hóa/năm.
Nghị quyết quy định điều chỉnh diện tích đất cho quốc phòng từ 1.050 ha thành 570 ha dành riêng cho quốc phòng và 480 ha cho xây dựng kết cấu hạ tầng hàng không dùng chung quân sự và dân dụng. Việc quản lý, sử dụng phần diện tích dùng chung thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về hàng không dân dụng; ưu tiên cho hoạt động quân sự khi thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Đồng thời, bổ sung hai tuyến giao thông kết nối vào dự án: tuyến số 1 nối với quốc lộ 51, tuyến số 2 nối với đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây.

Phối cảnh sân bay Long Thành.
Quốc hội cũng giao Chính phủ xem xét, quyết định tổng mức đầu tư của dự án theo quy định của pháp luật về đầu tư công, xây dựng, quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật có liên quan, bao gồm chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng và bảo đảm tổng mức đầu tư toàn bộ dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành không vượt tổng mức đầu tư theo Nghị quyết số 94/2015/QH13 ngày 25-6-2015 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Chính phủ lựa chọn nhà đầu tư theo quy định của pháp luật bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích của Nhà nước, lợi ích của quốc gia; bảo đảm sự quản lý của Nhà nước theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng và sử dụng cho mục đích quân sự.
Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày Quốc hội thông qua.
Luật Kiểm toán Nhà nước có hiệu lực thi hành từ 1-7-2020
Với 454 đại biểu Quốc hội tán thành, chiếm 94%, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước.
Luật quy định khi thực hiện kiểm toán, Kiểm toán Nhà nước được quyền truy cập, khai thác hoặc ủy quyền bằng văn bản theo quy định của pháp luật cho thành viên Đoàn kiểm toán truy cập, khai thác trên hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và dữ liệu điện tử của đơn vị được kiểm toán, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kiểm toán để thu thập thông tin, tài liệu liên quan trực tiếp đến nội dung, phạm vi kiểm toán dưới sự giám sát về phạm vi truy cập, khai thác của đơn vị được kiểm toán và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kiểm toán; việc truy cập dữ liệu phải tuân thủ quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm bảo vệ bí mật, bảo mật, an toàn theo quy định của pháp luật.
Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1- 7- 2020.

Đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua các dự án Luật và Nghị quyết chiều 26/11.
Xóa số nợ thuế không còn khả năng nộp ngân sách
Nghị quyết về khoanh tiền nợ thuế, xóa tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước được Quốc hội thông qua với 91,3% số đại biểu tán thành.
Theo nghị quyết, thẩm quyền xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với doanh nghiệp và tổ chức được quy định: Thủ tướng Chính phủ quyết định xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp từ 15 tỷ đồng trở lên; Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp từ 10 tỷ đồng đến dưới 15 tỷ đồng; Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quyết định xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp từ 5 tỷ đồng đến dưới 10 tỷ đồng; Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp dưới 5 tỷ đồng.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2020 và được tổ chức thực hiện trong thời hạn 3 năm kể từ ngày có hiệu lực thi hành.
Phê chuẩn chủ trương đầu tư dự án hồ chứa nước Ka Pét
Với 448/449 đại biểu tán thành, Quốc hội thông qua Nghị quyết phê chuẩn chủ trương đầu tư dự án hồ chứa nước Ka Pet, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, có hiệu lực từ ngày Quốc hội thông qua.
Nghị quyết xác định mục tiêu dự án là cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp; cấp nước thô cho khu công nghiệp và sinh hoạt của người dân; phòng, chống lũ và cải tạo môi trường, điều tiết nước cho vùng hạ du khu vực Hàm Thuận Nam và tỉnh Bình Thuận. Thời gian thực hiện dự án từ năm 2019 đến năm 2024.