Tăng trưởng kinh tế đến từ cả cung và cầu

Toàn cảnh phiên họp
Giải trình vấn đề được các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đặt ra, Bộ trưởng Kế hoạch- Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết, động lực tăng trưởng kinh tế năm 2019 đến từ cả cung và cầu. Về phía cung, khu vực công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng trưởng cao, ước đạt trên 8,4%. Trong đó, riêng công nghiệp chế biến - chế tạo tăng 11% và tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu trong động lực tăng trưởng kinh tế năm nay. Bên cạnh đó, khu vực dịch vụ cũng tăng trưởng cao, ước đạt 7%. Tính chung cả hai lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong cơ cấu GDP chiếm tỷ trọng khoảng 86%, thể hiện sự chuyển dịch đúng hướng trong cơ cấu lớn của nền kinh tế. Về phía cầu, sức mua của thị trường trong nước liên tục phát triển trong những năm gần đây. Tổng lượng hàng hóa và dịch vụ luôn duy trì tăng trưởng ở mức hai con số, ước đạt 11,5% trong năm 2019 nhờ kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát thấp, thu nhập tăng nên tổng cầu, sức mua tăng, nền kinh tế được củng cố, duy trì đà tăng trưởng tích cực. Bên cạnh đó, xuất khẩu ước tăng 9,2%.
Chất lượng tăng trưởng ngày càng được cải thiện, phản ánh qua kết quả tái cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch sang sản xuất, do đó ngành công nghiệp chế biến chế tạo phát triển mạnh, giảm dần sự phụ thuộc vào khai khoáng và tăng trưởng tín dụng. Đóng góp của năng suất, các nhân tố tổng hợp (TFP) hàng năm đạt trên 40%, cao hơn giai đoạn trước khoảng 33,58%, hoàn thành mục tiêu đề ra là 30 - 35%. Năng suất lao động giai đoạn 2016 - 2019 cũng tăng cao, đạt 5,8% vượt mục tiêu của kế hoạch 5 năm là 5,5%. Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng khẳng định, trong thời gian tới, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ tiếp tục trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế.
Giải ngân vốn đầu tư công từ năm 2020 sẽ có bước cải thiện đáng kể
Trước tình trạng giải ngân vốn đầu tư công chậm được nhiều ĐBQH đặt ra, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng thừa nhận, đây là điểm tối trong bức tranh sáng của nền kinh tế, đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển KTXH, nhất là đóng góp của vốn đầu tư công vào giá trị GDP. Nhiều công trình hạ tầng chậm tiến độ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn Nhà nước. Cập nhật tình hình 10 tháng cho thấy, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 49,83% so với kế hoạch Quốc hội giao và chỉ đạt 54,69% kế hoạch đầu tư Chính phủ giao, thấp hơn so với cùng kỳ 2018. Mặc dù Chính phủ có nhiều chỉ đạo quyết liệt, với nhiều giải pháp khác nhau ngay từ những tháng đầu năm như giao kế hoạch vốn rất sớm, đốc thúc các địa phương hoàn thành thủ tục, thủ tục đến đâu giao vốn đến đó, nhưng đến nay còn 27.000 tỷ đồng vẫn chưa giao được.
Để giải quyết vấn đề này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 94 với nhiều giải pháp chủ yếu để đẩy nhanh tiến độ phân bổ, giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2019, tập trung vào 5 nhóm giải pháp chính là: tiếp tục rà soát các quy định và vướng mắc để kịp thời điều chỉnh; khẩn trương giao chi tiết, điều chỉnh kế hoạch vốn, kiên quyết điều chỉnh vốn từ các dự án giải ngân chậm sang các dự án có khả năng giải ngân cao hơn; tập trung chỉ đạo công tác giải ngân ở các cấp, các ngành; đổi mới công tác theo dõi, đánh giá kế hoạch đầu tư công; tăng cường kỷ luật, kỷ cương nhất là vai trò của người đứng đầu.
Theo Bộ trưởng, với việc Luật Đầu tư công được sửa đổi và có hiệu lực từ 1-1-2020 và thực hiện đồng bộ các giải pháp của Nghị quyết 94, với sự giám sát của Quốc hội, các Đoàn ĐBQH, giải ngân vốn đầu tư công từ năm 2020 sẽ có bước cải thiện đáng kể.
Nợ công đã giảm một nửa
Giải trình trước Quốc hội về cân đối thu - chi ngân sách Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, năm 2019 là năm thứ hai liên tiếp thu ngân sách trung ương vượt dự toán. Các chỉ tiêu tổng thu, huy động vào ngân sách, thu nội địa... đạt mục tiêu kế hoạch 5 năm.
Nhờ kiểm soát tốt, nợ công đã giảm một nửa so với giai đoạn trước và tăng thấp hơn tốc độ tăng GDP danh nghĩa. Theo tính toán, nợ công năm 2020 bằng khoảng 54,3% GDP, thấp hơn nhiều mức 63,7% GDP cách đó 4 năm.
Dù vậy, Bộ trưởng cho rằng, điều hành ngân sách gặp khó khăn khi tỷ lệ huy động thuế, phí giảm dần và chưa đạt mục tiêu 21% GDP giai đoạn 2019-2020. Nguyên nhân là nguồn đóng góp từ dầu thô, xuất nhập khẩu giảm nhanh trong vài năm qua, từ mức 7,3% GDP năm 2015 xuống 4,5% năm 2016, dự kiến còn 4,2% trong năm 2019 và giảm tốc về 3,6% năm 2020. Thu từ một số lĩnh vực tăng trưởng cao trước đây nay giảm, như thu từ Nhà máy lọc hoá dầu Dung Quất giảm tới 19. Mặt khác, thu nội địa của một số thành phố lớn có điều tiết về ngân sách trung ương đều giảm, như Hà Nội dự kiến năm 2020 giảm gần 10% so với 2017, TP Hồ Chí Minh giảm hơn 3%, Bình Dương gần 8%...
Đề nghị ổn định tỷ lệ điều tiết ngân sách về Trung ương
Đại biểu Bùi Thanh Tùng (Hải Phòng) phát biểu, đánh giá cao sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng và các Phó thủ tướng Chính phủ, sự nỗ lực quyết tâm của các bộ, ngành, địa phương trong thực hiện các Kết luận của Trung ương, các nghị quyết của Quốc hội về các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển KTXH năm 2019. Đại biểu cơ bản nhất trí với những đánh giá về hạn chế, vướng mắc được nêu trong báo cáo của Chính phủ, báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cũng như phân tích của nhiều ĐBQH tại phiên thảo luận; đồng tình với các mục tiêu tổng quát, chỉ tiêu chủ yếu năm 2020 và 11 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm được Chính phủ xác định. Đồng thời kiến nghị Quốc hội, Chính phủ quan tâm 3 nội dung:
Thứ nhất, mức tăng trưởng GDP cũng như thành tựu thu ngân sách trong 2 năm liền 2018, 2019 là rất cao, vượt kế hoạch sau một số năm liền hụt thu. Tuy nhiên, nếu nhìn vào cơ cấu thu, cũng chưa thực sự bền vững. Việc tăng thu nội địa chỉ đạt 1,9% so với dự toán. Trong khi phần tăng thu ngân sách vẫn chủ yếu là do tăng các khoản thu không có tính bền vững như: thu cấp quyền khai thác khoáng sản, tài nguyên nước (tăng 40,8%), thu tiền sử dụng đất (tăng 29,9%), thu xổ số kiến thiết (tăng 6,2%)…, thì thu từ khối sản xuất của cả 3 loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) đều không đạt kế hoạch. Đặc biệt khối doanh nghiệp FDI tăng trưởng mạnh về quy mô đầu tư cũng như sản xuất kinh doanh, nhưng thu chỉ đạt 95,9% so với dự toán; khối doanh nghiệp nhà nước đang được tích cực tái cơ cấu, nhưng chỉ đạt 94,1% dự toán. Theo đại biểu, đây là vấn đề cần được phân tích làm rõ thêm, tiếp tục đánh giá tác động các chính sách đã ban hành.
Thứ hai, năm 2019, tình trạng chậm giao vốn, giao nhiều đợt và chậm điều chỉnh vốn đầu tư phát triển, trong đó có vốn ODA vẫn chưa có nhiều cải thiện, khiến nhiều dự án có ý nghĩa lớn đến phát triển KTXH chậm được triển khai, bị dở dang, chuyển tiếp kéo dài. Với tình trạng này, một số dự án đầu tư vay vốn ODA đến hết thời hạn hiệp định vay vẫn không thể hoàn thành, gây rất nhiều hệ lụy. Việc bố trí vốn hàng năm chưa bảo đảm tương ứng với tổng mức vốn đầu tư trung hạn 5 năm 2016-2020 đã được Quốc hội thông qua. Đại biểu đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương tiếp tục quan tâm hơn, hỗ trợ các địa phương tháo gỡ vấn đề này.
Thứ ba, được sự quan tâm chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, bằng những cơ chế chính sách cụ thể, sự hỗ trợ tạo điều kiện của các bộ, ngành Trung ương, thành phố Hải Phòng năm 2019 đạt được những kết quả phát triển KT-XH rất khích lệ, với 7/18 chỉ tiêu KT-XH dự kiến vượt cao so với kế hoạch và vượt mục tiêu của Đại hội 15 Đảng bộ thành phố. Những kết quả đó góp phần vào thành tựu chung của cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh sự cố gắng đó, việc Trung ương giao chỉ tiêu thu ngân sách khá cao cho một số địa phương có nguồn thu lớn, đặc biệt là các thành phố trực thuộc Trung ương tạo ra một áp lực không nhỏ, cũng một phần tạo khó khăn cho việc nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Hiện nay, thời kỳ ổn định ngân sách 2017-2020 sắp kết thúc. Đại biểu đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội và Chính phủ trong việc tính toán cân đối ngân sách trong thời kỳ ổn định ngân sách tiếp theo, cần tính toán một cách thật hợp lý và khoa học tỷ lệ điều tiết thu ngân sách về Trung ương đối với các địa phương có khả năng phát triển tốt, có dư địa để phát triển và đặc biệt là có các nghị quyết của Bộ Chính trị định hướng phát triển với vai trò là đầu tàu của các vùng kinh tế trọng điểm. Đồng thời, tạo điều kiện tối đa để Hải Phòng và các địa phương trên có thể thực hiện được các cơ chế trong các nghị quyết của Quốc hội, nghị định của Chính phủ về cơ chế tài chính – ngân sách đặc thù, để tiếp sức cho các địa phương này có đà phát triển vượt bậc, sẽ tạo ra nguồn lực lớn hơn đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước.

Đại biểu Bùi Thanh Tùng (Hải Phòng) phát biểu tại phiên thảo luận
Đại biểu Bùi Thanh Tùng (Hải Phòng) phát biểu, đánh giá cao sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng và các Phó thủ tướng Chính phủ, sự nỗ lực quyết tâm của các bộ, ngành, địa phương trong thực hiện các Kết luận của Trung ương, các nghị quyết của Quốc hội về các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển KTXH năm 2019. Đại biểu cơ bản nhất trí với những đánh giá về hạn chế, vướng mắc được nêu trong báo cáo của Chính phủ, báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cũng như phân tích của nhiều ĐBQH tại phiên thảo luận; đồng tình với các mục tiêu tổng quát, chỉ tiêu chủ yếu năm 2020 và 11 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm được Chính phủ xác định. Đồng thời kiến nghị Quốc hội, Chính phủ quan tâm 3 nội dung:
Thứ nhất, mức tăng trưởng GDP cũng như thành tựu thu ngân sách trong 2 năm liền 2018, 2019 là rất cao, vượt kế hoạch sau một số năm liền hụt thu. Tuy nhiên, nếu nhìn vào cơ cấu thu, cũng chưa thực sự bền vững. Việc tăng thu nội địa chỉ đạt 1,9% so với dự toán. Trong khi phần tăng thu ngân sách vẫn chủ yếu là do tăng các khoản thu không có tính bền vững như: thu cấp quyền khai thác khoáng sản, tài nguyên nước (tăng 40,8%), thu tiền sử dụng đất (tăng 29,9%), thu xổ số kiến thiết (tăng 6,2%)…, thì thu từ khối sản xuất của cả 3 loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) đều không đạt kế hoạch. Đặc biệt khối doanh nghiệp FDI tăng trưởng mạnh về quy mô đầu tư cũng như sản xuất kinh doanh, nhưng thu chỉ đạt 95,9% so với dự toán; khối doanh nghiệp nhà nước đang được tích cực tái cơ cấu, nhưng chỉ đạt 94,1% dự toán. Theo đại biểu, đây là vấn đề cần được phân tích làm rõ thêm, tiếp tục đánh giá tác động các chính sách đã ban hành.
Thứ hai, năm 2019, tình trạng chậm giao vốn, giao nhiều đợt và chậm điều chỉnh vốn đầu tư phát triển, trong đó có vốn ODA vẫn chưa có nhiều cải thiện, khiến nhiều dự án có ý nghĩa lớn đến phát triển KTXH chậm được triển khai, bị dở dang, chuyển tiếp kéo dài. Với tình trạng này, một số dự án đầu tư vay vốn ODA đến hết thời hạn hiệp định vay vẫn không thể hoàn thành, gây rất nhiều hệ lụy. Việc bố trí vốn hàng năm chưa bảo đảm tương ứng với tổng mức vốn đầu tư trung hạn 5 năm 2016-2020 đã được Quốc hội thông qua. Đại biểu đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương tiếp tục quan tâm hơn, hỗ trợ các địa phương tháo gỡ vấn đề này.
Thứ ba, được sự quan tâm chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, bằng những cơ chế chính sách cụ thể, sự hỗ trợ tạo điều kiện của các bộ, ngành Trung ương, thành phố Hải Phòng năm 2019 đạt được những kết quả phát triển KTXH rất khích lệ, với 7/18 chỉ tiêu KTXH dự kiến vượt cao so với kế hoạch và vượt mục tiêu của Đại hội 15 Đảng bộ thành phố. Những kết quả đó góp phần vào thành tựu chung của cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh sự cố gắng đó, việc Trung ương giao chỉ tiêu thu ngân sách khá cao cho một số địa phương có nguồn thu lớn, đặc biệt là các thành phố trực thuộc Trung ương tạo ra một áp lực không nhỏ, cũng một phần tạo khó khăn cho việc nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Hiện nay, thời kỳ ổn định ngân sách 2017-2020 sắp kết thúc. Đại biểu đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội và Chính phủ trong việc tính toán cân đối ngân sách trong thời kỳ ổn định ngân sách tiếp theo, cần tính toán một cách thật hợp lý và khoa học tỷ lệ điều tiết thu ngân sách về Trung ương đối với các địa phương có khả năng phát triển tốt, có dư địa để phát triển và đặc biệt là có các nghị quyết của Bộ Chính trị định hướng phát triển với vai trò là đầu tàu của các vùng kinh tế trọng điểm. Đồng thời, tạo điều kiện tối đa để Hải Phòng và các địa phương trên có thể thực hiện được các cơ chế trong các nghị quyết của Quốc hội, nghị định của Chính phủ về cơ chế tài chính – ngân sách đặc thù, để tiếp sức cho các địa phương này có đà phát triển vượt bậc, sẽ tạo ra nguồn lực lớn hơn đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước.
Cần quan tâm hơn nữa đến thị trường trong nước
Đại biểu Trần Hoàng Ngân (TP Hồ Chí Minh) đề nghị: Chính phủ cần quan tâm hơn nữa đến thị trường trong nước, một thị trường có 96 triệu dân.
Bày tỏ lo ngại giá trị xuất khẩu chủ yếu vẫn thuộc về khối đầu tư trực tiếp nước ngoài, đại biểu Phạm Phú Quốc (TP Hồ Chí Minh) đề nghị cần có chiến lược phát triển sản xuất trong nước, đặc biệt là đối với các thành phần kinh tế tư nhân để trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế. Vấn đề cần thực hiện là thực chất cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ các quy định chồng chéo giữa các luật, đầu tư và nuôi dưỡng môi trường khởi nghiệp; tạo lập phát triển thị trường vốn, tăng cường các chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp phát triển.
Chú trọng phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia
Về đổi mới sáng tạo quốc gia, đại biểu Nguyễn Thị Lan (Hà Nội) cho rằng, năm 2019, Việt Nam có sự phát triển khá ấn tượng: chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam tăng 4,9% so với năm 2018, xếp thứ 42/129 quốc gia trên thế giới và xếp thứ 3 trong khu vực ASEAN. Tuy vậy, đại biểu cũng cho rằng, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển chưa đồng đều, rộng khắp các lĩnh vực, đóng góp chưa nhiều cho sự phát triển KTXH, nền kinh tế vẫn đang nằm ở nấc thang thấp trong nền kinh tế toàn cầu.
Vì vậy, để phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cần phải dựa trên cơ sở khai thác nguồn lực của toàn bộ nền kinh tế, kết hợp với huy động nguồn lực và kinh nghiệm nước ngoài; phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa Chính phủ và cơ sở nghiên cứu của các trường đại học, doanh nghiệp và các chủ thể khác; chú trọng vai trò tương tác của các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đó. Đồng thời, cần triển khai hàng loạt giải pháp đồng bộ và khả thi như: hoàn thiện khuôn khổ pháp lý hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, tổ chức ươm tạo, thúc đẩy kinh doanh... Đặc biệt, Chính phủ cần quan tâm tới giải pháp quy hoạch lại toàn bộ mạng lưới các trường đại học và các viện nghiên cứu, chú trọng vai trò tương hỗ biện chứng giữa trường đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp trong hệ sinh thái khởi nghiệp. Đồng thời, đầu tư phát triển các trường đại học đúng tầm nhằm nâng cao năng lực và tiềm lực khoa học - công nghệ quốc gia.
Đại biểu khẳng định, đổi mới sáng tạo chính là chìa khoá để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia khởi nghiệp, có sức cạnh tranh cao trên trường quốc tế.
Quan tâm bảo vệ môi trường thiết thực
Theo đại biểu Ngô Sách Thực (Bắc Giang), vấn đề ô nhiễm môi trường được nhân dân đặc biệt quan tâm, nhiều nơi người dân bức xúc. Đại biểu đề nghị, cần chỉ đạo tổng kết thực hiện các nghị quyết của Đảng về bảo vệ môi trường và tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường giai đoạn 2011 – 2020 trong năm 2020; bổ sung các giải pháp thực hiện hiệu quả cao trong giai đoạn mới, nhất là các giải pháp về GDP xanh, vật liệu thay thế, tái chế, giảm thiểu rác thải nhựa, đặc biệt là các giải pháp về ứng phó với biến đổi khí hậu, tái định cư, chống tác hại của sạt lở vùng núi, sông, biển đang thường xuyên đe dọa tính mạng, đời sống của nhiều hộ dân. Đồng thời, cần chỉ đạo, bổ sung hoàn thiện quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường, hoàn thiện cơ chế người xả thải trả phí; người gây ô nhiễm môi trường; gây hậu quả nghiêm trọng bị truy tố trước pháp luật; khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong xử lý nước thải và cần tổ chức biểu dương các sáng kiến hoạt động, cách làm bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu trong nhân dân hàng năm và định kỳ.
Đại biểu Thái Trường Giang (Cà Mau) cho biết, công tác quản lý nhà nước đối với nguồn nước ngọt còn nhiều sơ hở, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, không bảo đảm sức khoẻ cho người dân. Do đó, phải có biện pháp bảo vệ nguồn nước để cung cấp người dân. Đại biểu đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương khẩn trương rà soát lại và có báo cáo cụ thể về việc tổ chức thực hiện Luật Tài nguyên nước và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Tiếp tục thông tin kỹ hơn về biển Đông
Tình hình biển Đông tiếp tục được nhiều đại biểu đề cập. Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam khẳng định, "đây là vấn đề được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm". Thời gian qua, công tác đối ngoại, an ninh quốc phòng được tăng cường và đạt nhiều kết quả quan trọng; nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo luôn được đặt lên hàng đầu. Các lực lượng thực thi nhiệm vụ đã thực hiện đúng đường lối, quan điểm, đối sách của Đảng là kiên quyết, kiên trì bằng biện pháp hoà bình, phù hợp với luật pháp quốc tế để giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế và lợi ích quốc gia, giữ môi trường hoà bình, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội để phát triển kinh tế. Theo đại biểu, điều gì thuộc về nguyên tắc phải kiên quyết giữ gìn; những vấn đề thuộc về độc lập lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quyết không nhân nhượng. Nhưng Việt Nam phải có đối sách phù hợp vì truyền thống văn hoá giữ nước của cha ông là hoà hiếu, hoà bình. Cụ thể, phải sử dụng tổng hợp các biện pháp, xây dựng thế trận gắn kết chặt chẽ giữa các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, lịch sử, pháp lý, trong đó lịch sử, pháp lý là một trong những căn cứ quan trọng để khẳng định tính chính nghĩa của Việt Nam theo hiến chương của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước khác mà Việt Nam đã cam kết.
Đại biểu Lê Thanh Vân (Cà Mau) đề xuất đẩy mạnh hơn nữa tuyên truyền trên công luận, công khai các vi phạm của Trung Quốc và sử dụng công pháp quốc tế trong xử lý các vấn đề về biển Đông.
Đại biểu Nguyễn Anh Trí (Hà Nội) cho biết, cử tri tin tưởng vào đường lối giải quyết vấn đề biển Đông của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, cử tri mong Chính phủ làm tốt hơn nữa việc cung cấp thông tin dưới các hình thức khác nhau để nhân dân biết rõ, yên tâm và tham gia hoạt động bảo vệ chủ quyền trên biển Đông đúng cách, hiệu quả cao.
Phát triển văn hóa còn nhiều thách thức
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện cho rằng, những thành tựu trong lĩnh vực văn hóa còn chưa tương xứng, chưa đủ tầm, mức để tác động hiệu quả đến việc xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh.
Theo Bộ trưởng, sự phát triển văn hóa hiện nay đang đứng trước nhiều thách thức, bất cập, nảy sinh nhiều vấn đề cần phải tập trung giải quyết. “Chúng ta nói nhiều đến việc xuống cấp của đạo đức xã hội, đạo đức kinh doanh, trách nhiệm nghề nghiệp, quy tắc ứng xử, văn minh công cộng; gia tăng lối sống thực dụng, cá nhân, vị kỷ, tệ nạn, tội phạm xã hội,… Rõ ràng rằng, tất cả những điều này đều là vấn đề của văn hóa, liên quan đến văn hóa và có nguyên nhân từ văn hóa”- Bộ trưởng nhấn mạnh. Từ đó, Bộ trưởng cho rằng, sự phát triển của văn hóa cùng những thành tựu đạt được trong lĩnh vực này hiện nay vẫn chưa tương xứng với thành tựu trong lĩnh vực chính trị, kinh tế.
Để văn hóa thực sự hướng tới sự phát triển bền vững cho đất nước, Bộ trưởng đã đề xuất 7 nhóm nhiệm vụ và giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới. Trong đó, môi trường văn hóa lành mạnh, gia đình, nhà trường và xã hội sẽ là nơi hình thành, nuôi dưỡng, vun đắp nhân cách văn hóa và giáo dục lối sống mỗi con người để cái tốt, cái thiện được bảo vệ, nhân lên, cái xấu, cái ác bị lên án, bài trừ. Để văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, phải quan tâm xây dựng văn hóa cơ sở. Đồng thời đầu tư cho văn hóa tinh hoa, tạo điều kiện cho cá nhân và cộng đồng được tham gia sáng tạo và hưởng thụ văn hóa.
Bộ trưởng cũng nhấn mạnh việc phát huy sứ mệnh của văn học nghệ thuật, vai trò của văn nghệ sĩ đối với xây dựng đạo đức, văn hóa ứng xử; tăng cường hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại đồng thời giới thiệu quảng bá văn hóa Việt Nam ra bạn bè thế giới.
H.Thanh