Trên nền tảng nghề cha ông để lại, người thợ mộc Đông Giao (Hải Phòng) từng bước đổi mới cách làm, tìm hướng đi mới cho kinh tế gia đình.

Bên trong các xưởng gỗ ở thôn Đông Giao, tiếng máy cắt, tiếng đục, tiếng bào hòa quyện tạo nên nhịp lao động quen thuộc. Dưới bàn tay người thợ, những khối gỗ thô dần thành các sản phẩm tinh xảo, từ đồ thờ, hoành phi, câu đối đến tượng và phù điêu chạm trổ công phu. Với nhiều gia đình, nghề mộc không chỉ là nghề cha ông truyền lại mà còn là nguồn thu nhập chính.
Anh Trần Xuân Nam, người yêu nghệ thuật gỗ đến từ Hà Nội, chăm chú quan sát những đường chạm nổi trên một pho tượng đang hoàn thiện. Từng tìm hiểu nhiều làng nghề, anh vẫn ấn tượng với cách người dân Đông Giao gìn giữ nghề truyền thống. Theo anh, mỗi sản phẩm đều thể hiện sự khéo léo, tỉ mỉ của người thợ, với từng chi tiết đòi hỏi sự kiên nhẫn và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm.
Làng nghề mộc Đông Giao (xã Cẩm Giàng) có lịch sử khoảng 300 - 400 năm. Theo thần tích địa phương, dưới thời vua Lê Cảnh Hưng, thợ mộc Đông Giao từng được triệu về kinh đô để tham gia xây dựng các công trình của triều đình. Những câu chuyện về quá trình làm nghề và truyền nghề qua nhiều thế hệ vẫn được người dân lưu giữ, trở thành một phần ký ức của làng.
Trải qua nhiều biến động lịch sử, nghề mộc Đông Giao từng có thời kỳ gặp khó khăn. Sản phẩm chủ yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, như cửa gỗ, bàn ghế và các vật dụng gia đình. Dù điều kiện sản xuất còn hạn chế, người thợ vẫn kiên trì gìn giữ kỹ thuật chạm khắc, bảo đảm sự tinh tế trong từng sản phẩm.

Khi nhu cầu thị trường tăng, những kỹ thuật được truyền lại qua nhiều thế hệ trở thành lợi thế giúp làng nghề phát triển.
Bên cạnh các sản phẩm truyền thống, các cơ sở ở Đông Giao còn chế tác tượng gỗ, tranh phù điêu và đồ mỹ nghệ theo yêu cầu của khách hàng. Một số tác phẩm được đầu tư công phu, sử dụng nguyên liệu quý, trải qua nhiều công đoạn hoàn thiện và có giá trị hàng trăm triệu đồng.
Giá trị sản phẩm tạo nên sự khác biệt về thu nhập giữa các cơ sở. Những hộ có tay nghề cao, chủ động tìm kiếm khách hàng và nhận được đơn hàng lớn thường có nguồn thu tốt hơn. Trong khi đó, các công đoạn sơ chế, gia công và hoàn thiện sản phẩm vẫn tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương. Nhờ duy trì nghề mộc, nhiều gia đình có sinh kế ổn định, hạn chế việc phải đi làm ăn xa.
Theo thống kê, thôn Đông Giao có 982 hộ với gần 3.800 nhân khẩu, trong đó khoảng 95% số hộ tham gia nghề chạm khắc gỗ. Làng hiện có 18 nghệ nhân cấp thành phố, 10 nghệ nhân cấp quốc gia và 2 nghệ nhân ưu tú. Đây là những con số cho thấy vị trí quan trọng của nghề mộc trong đời sống kinh tế, xã hội của địa phương.
Nghề mộc tạo việc làm thường xuyên cho gần 3.000 lao động, với thu nhập bình quân từ 8 - 10 triệu đồng/người/tháng. Những người thợ giàu kinh nghiệm, đảm nhận công đoạn kỹ thuật cao hoặc làm việc tại các cơ sở có nhiều đơn hàng có thể đạt mức thu nhập cao hơn.
Sinh năm 1990, anh Vũ Đức Quân lớn lên trong gia đình có ba đời làm nghề mộc. Từ nhỏ, anh đã quen với tiếng đục, tiếng bào và mùi gỗ trong xưởng. Quá trình quan sát ông, cha làm nghề giúp anh tích lũy kinh nghiệm và nuôi dưỡng niềm đam mê với nghệ thuật chạm khắc.
Là một trong những nghệ nhân trẻ của làng, anh Quân nhận thấy người thợ ngày nay cần nhiều hơn kỹ năng thủ công để có thể gắn bó lâu dài với nghề. Thị hiếu khách hàng thay đổi, mẫu mã sản phẩm ngày càng đa dạng, đòi hỏi người làm nghề phải chủ động học hỏi, cập nhật kiến thức mỹ thuật và tìm tòi những cách thể hiện mới.

Bởi vậy, bên cạnh việc rèn luyện kỹ thuật truyền thống, anh dành thời gian nghiên cứu các phong cách tạo hình, tìm hiểu nhu cầu thị trường để phát triển sản phẩm. Với đồ thờ, tượng Phật, hoành phi, câu đối, những yêu cầu về bố cục, tỷ lệ và thần thái vẫn được đặt lên hàng đầu.
“Giữ nghề không có nghĩa là làm y nguyên những gì cha ông đã làm, mà phải làm sao để sản phẩm phù hợp với đời sống hiện đại nhưng không mất đi hồn cốt”, anh Quân chia sẻ.
Quan niệm ấy cũng là hướng đi của nhiều người trẻ ở Đông Giao. Thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền thống, một số cơ sở đã đầu tư máy móc phục vụ các công đoạn nặng nhọc, ứng dụng phần mềm thiết kế để dựng mẫu, tính toán kích thước và nâng cao độ chính xác. Những chi tiết đòi hỏi sự tinh tế vẫn được người thợ trực tiếp thực hiện nhằm bảo đảm giá trị thẩm mỹ của sản phẩm.
Sự kết hợp giữa công nghệ và kỹ thuật thủ công giúp các cơ sở tiết kiệm thời gian, đáp ứng tốt hơn những đơn hàng có yêu cầu riêng. Đây cũng là cách để người trẻ tiếp cận nghề mộc thuận lợi hơn, từng bước nâng cao năng suất mà vẫn giữ được nét đặc trưng của sản phẩm Đông Giao.
Nghệ nhân trẻ Vũ Đức Thắng là một trong những người đưa những câu chuyện thời đại vào tác phẩm chạm khắc. Những sáng tạo mở ra khả năng phát triển các sản phẩm có dấu ấn riêng, phục vụ nhu cầu trưng bày, lưu niệm và quà tặng.

Không chỉ đổi mới mẫu mã, các hộ làm nghề ở Đông Giao còn chủ động tìm kiếm khách hàng qua nhiều kênh. Bên cạnh giao dịch trực tiếp, nhiều cơ sở sử dụng mạng xã hội và sàn thương mại điện tử để giới thiệu sản phẩm, tiếp cận người mua ở nhiều địa phương. Cách làm này giúp mở rộng thị trường tiêu thụ, tạo thêm việc làm cho người lao động.
Chủ tịch UBND xã Cẩm Giàng Nguyễn Quang Sáng cho biết, địa phương đang hỗ trợ các hộ sản xuất quảng bá sản phẩm, tham gia hội chợ, triển lãm và kết nối thị trường. Mới đây, UBND xã đã công bố quyết định cho phép thành lập Hội Làng nghề chạm khắc gỗ Đông Giao. Hội sẽ là cầu nối giữa chính quyền và các hộ sản xuất, giúp kịp thời nắm bắt khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao giá trị sản phẩm địa phương.
Được công nhận là làng nghề truyền thống từ năm 2004, Đông Giao có nhiều cơ hội mở rộng thị trường nhưng cũng đối mặt với sự cạnh tranh từ các sản phẩm công nghiệp giá rẻ. Để duy trì nguồn thu ổn định, các cơ sở cần tiếp tục nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và lựa chọn phân khúc khách hàng phù hợp.
Từ nghề thủ công có lịch sử lâu đời, mộc Đông Giao đã trở thành nguồn sinh kế của hàng nghìn người dân. Việc đổi mới sản xuất, quảng bá và tiêu thụ đang mở ra hướng phát triển mới cho làng nghề, tạo thêm giá trị kinh tế trên nền tảng truyền thống. Tiếng đục, tiếng bào vẫn vang lên trong những xưởng gỗ, cho thấy sức sống của làng nghề trong quá trình thích ứng với thị trường.
ĐỖ TUẤN