Luật Hộ tịch được sửa đổi toàn diện nhằm thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch.

Luật Hộ tịch được sửa đổi toàn diện nhằm thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức, sắp xếp bộ máy hành chính nhà nước, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và việc hiện đại hóa, chuyển đổi số toàn diện công tác đăng ký, quản lý hộ tịch; tăng cường đơn giản hóa, cắt giảm thủ tục hành chính...
Luật gồm 4 chương, 30 điều, trong đó tập trung vào các vấn đề lớn như sau: Phân quyền triệt để đăng ký hộ tịch cho UBND cấp xã; đồng thời, cho phép Chủ tịch UBND cấp xã, căn cứ tình hình thực tế, ủy quyền ký giấy tờ hộ tịch, trừ một số trường hợp theo quy định của luật.
Sửa đổi, bổ sung các quy định về Cơ sở dữ liệu hộ tịch để nâng cấp thành cơ sở dữ liệu quốc gia, bảo đảm dữ liệu hộ tịch “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.
Cắt giảm thủ tục hành chính; thực hiện đăng ký hộ tịch không phụ thuộc vào địa giới hành chính, tăng tỷ lệ đăng ký trực tuyến, trực tuyến toàn trình; khai thác, sử dụng dữ liệu hộ tịch điện tử thay thế các loại giấy tờ hộ tịch. Điều chỉnh phạm vi, nội dung đăng ký hộ tịch nhằm giải quyết căn bản những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn và thống nhất với quy định của pháp luật có liên quan.
Quy định công chức hộ tịch thuộc UBND cấp xã là người trực tiếp thực hiện công tác hộ tịch; giao Chính phủ quy định cụ thể về vị trí việc làm, tiêu chuẩn, trình độ, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ, điều kiện làm việc đối với công chức hộ tịch phù hợp với quy định của pháp luật cán bộ, công chức.
Trong đó có nội dung sửa đổi đáng chú ý là bổ sung người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch vào đối tượng đăng ký hộ tịch. Cụ thể, khoản 1 điều 5 của luật quy định công dân Việt Nam, người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam, người không quốc tịch, người nước ngoài có quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch theo quy định của luật này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Trong khi đó, khoản 1 Điều 6 Luật Hộ tịch năm 2014 chỉ quy định đối với công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam và công dân nước ngoài thường trú tại Việt Nam có quyền và trách nhiệm đăng ký hộ tịch tại Việt Nam.
Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.
HUY THÀNH