(HPĐT)- Người Lý Sơn ăn Tết như bao vùng quê khác. Nhưng với hòn đảo tiền tiêu này, trên mâm cỗ ngày Tết bao giờ cũng có các loại bánh đã từng theo chân các binh phu ra Hoàng Sa thuở cha ông đi mở cõi. Có người gọi các loại bánh đó là “bánh Hoàng Sa”.

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn. ẢNH: PHẠM ĐƯƠNG
Đảo Lý Sơn cách đất liền của tỉnh Quảng Ngãi 18 hải lý. Ngày trước, để đặt chân được lên hòn đảo này phải mất 3 giờ bằng các loại tàu cũ kỹ, vừa chở khách, vừa hàng hóa, cả cát sạn và tỏi, hành. Bây giờ ra đảo, đi tàu cao tốc, chỉ mất 45 phút. Nói thế để thấy, những cư dân đầu tiên ra khai phá đảo Lý Sơn từ 300 năm trước, rồi lập làng và giữ đất ở đó, gian khó đến nhường nào!
Hình thành từ 5 miệng núi lửa cách nay hàng triệu năm, đảo Lý Sơn được ví như “chiến hạm nổi” giữa biển Đông. Người dân ở đây vẫn thường “ăn sóng nói gió” như cách mà họ phải đối mặt với sự khắc nghiệt thường xuyên từ thiên nhiên. Can trường và rộng lượng, dũng cảm và nhân hậu, bất khuất nhưng lại dễ mủi lòng… đó là những gì người Lý Sơn lưu giữ từ mấy trăm năm nay, như họ từng lưu giữ các loại bánh mà các binh phu vẫn dùng mỗi khi nhận lệnh vua ban, ra Hoàng Sa giữ đảo.
Những chuyến hải hành vạn dặm
“Hoàng Sa trời nước mênh mông/ Người đi thì có mà không thấy về/ Hoàng Sa mây nước bốn bề/ Tháng Hai khao lề thế lính Hoàng Sa”. Có lẽ chưa có câu ca dao nào mà nghe buồn thương đến thế! “Tháng Hai khao lề”, tức là sau Tết âm lịch, các tộc họ trên đảo Lý Sơn tổ chức một “lễ khao quân”, giống như ngày nay làm lễ tiễn thanh niên lên đường đi bộ đội. Cách đây 15 năm, trong một lần lục trong chiếc rương “bí mật” của dòng họ Đặng ở thôn Đồng Hộ, ông trưởng tộc họ Đặng tìm thấy một “Tờ lệnh” dưới thời vua Minh Mạng điều quân ra Hoàng Sa. Theo đó, hàng năm, cứ vào tháng Hai âm lịch, khi những trận gió mùa đông bắc không còn “tàn khốc” càn quét biển Đông nữa, những con em trên đảo Lý Sơn bắt đầu lên thuyền để trực chỉ Hoàng Sa, sau này có cả Trường Sa nữa. Nếu không có gì bất trắc, thuyền đi 3 ngày 3 đêm sẽ tới hòn đảo đầu tiên của quần đảo Hoàng Sa. Những người lính sẽ lưu lại các đảo, đo vẽ bản đồ, cắm mốc chủ quyền, để 6 tháng sau đó, khi mùa mưa bão sắp về thì họ rời các đảo, trở lại đất liền. Sản vật thu được từ những chuyến đi ấy, có cả các loại hàng hóa từ những con tàu đắm của thương thuyền phương Tây trôi giạt vào đảo, được mang về giao nộp triều đình. Tuy nhiên, sự khắc nghiệt của thời tiết trên biển cùng phương tiện vận chuyển quá thô sơ nên những cuộc ra đi mà không trở lại vẫn thường xảy ra. “Người đi thì có mà không thấy về” - câu ca dao đã nói lên thân phận của những binh phu Lý Sơn thời ấy.
Bản di chúc từ “bánh Hoàng Sa”
Ngày Tết, ngoài những loại bánh và thực phẩm thông thường, người Lý Sơn luôn bày trên mâm cỗ những thứ bánh mà chỉ có họ mới hiểu vì sao. Chính những loại bánh này đã giúp cho đội “Hùng binh Hoàng Sa” ngày ấy có thể trụ được trên những con thuyền dài ngày như thế.
Bên cạnh rau xanh thì các loại bánh mới là loại lương thảo đáng kể của người Lý Sơn. Loại bánh đầu tiên phải kể đến là loại bánh ít lá gai. Nguyên liệu để làm loại bánh này hoàn toàn có trên đảo nên dễ làm và được ưu tiên hàng đầu vì hạn sử dụng của nó hàng tháng trời. Ngoài ra, các loại bánh thuẫn, bánh nổ (làm từ nếp), bánh in cũng là những loại bánh được lính Hoàng Sa mang theo vì có thể “thích nghi” với khí hậu biển và để được nhiều ngày.
Trong mâm cỗ ngày Tết, tất cả các loại bánh này đều “có mặt” bên cạnh các loại bánh được làm từ các nhà máy chuyên dụng hiện đại. Lớp trẻ ngày nay, nếu không “tò mò” hỏi ý nghĩa của các loại bánh ấy trên mâm cỗ, sẽ không hiểu vì sao ông bà mình lại bày các loại bánh ấy để cúng mà… không thấy ăn? Có thể các loại bánh ấy không ngon bằng thứ bánh được sản xuất trên dây chuyền hiện đại, nhưng chưa bao giờ vắng bóng trên mâm cỗ ngày Tết của người Lý Sơn. Như “di chúc” mà ông bà trao truyền cho các thế hệ nối tiếp. Một thứ bánh “nhắc nhớ” hơn là giá trị sử dụng.
Vì bánh ấy luôn nhắc con cháu mình rằng, ông bà ta từng mang theo làm hành trang suốt chiều dài mấy trăm năm giữ đảo Hoàng Sa. “Bánh Hoàng Sa” mãi mãi trường tồn trong tâm thức của mỗi người dân Việt!
NHÀ THƠ PHẠM ĐƯƠNG