Người sản xuất vẫn trăn trở

16/09/2017 10:01

Hà Vân

Sau một thời gian “lên ngôi”, vịt trời hiện mất giá thảm hại.

Ảnh: Trung Kiên

Với ước mong thành tỷ phú, cuối năm 2015, anh Trần Thành L. (ở phường Phù Liễn, quận Kiến An) bàn với anh họ là anh Nguyễn Minh T. thuyết phục gia đình đầu tư hơn 200 triệu đồng cải tạo khu vực đầm rộng 0,6 héc-ta ở khu vực chân núi Vọ nuôi vịt trời được thuần hoá. Lứa đầu, gần 500 con chuẩn bị đến kỳ xuất chuồng, bỗng giá vịt trời trên thị trường từ trên dưới 200 nghìn đồng/con rớt xuống còn 120-130 nghìn đồng/con. Không những thế, thương lái còn chê ỉ, chê ôi nào là đường xa tốn chi phí vận chuyển, vịt lắm mỡ… để ép giá. Trước tình cảnh đó, anh cùng người thân tự tìm mối hàng rồi giao tận nơi với giá “mềm” (110-120 nghìn đồn/con). Sau hơn 1 tháng tất tả xuôi ngược khắp thành phố và sang một số tỉnh lân cận, toàn bộ số vịt trời được tiêu thụ hết, nhưng để lại khoản lỗ chưa biết đến bao giờ trả được. Sau vụ đó, anh đành xếp lại mộng làm giàu từ vịt trời. Anh L. tâm sự: “May mắn dừng kịp thời chứ để đến giờ (giữa tháng 8-2017), còn “chết” nữa. Mình thấy vịt trời hiện bán ở một số chợ với giá 80-100 nghìn đồng/con, trong khi chi phí ít nhất 110 nghìn đồng/con nếu nuôi đúng chuẩn”.

Anh Thiệu, đầu bếp có thâm niên gần 30 năm trong nghề, cho biết, khoảng 5 năm trở về trước, vịt trời hoang dã luôn trong tình trạng “cháy” hàng dù giá bán cao ngất ngưởng (800-900 nghìn đồng/con). Từ khi thuần hoá và đưa vào nuôi hàng hoá thành công, giá vịt trời dù giảm xuống còn 300-400 nghìn đồng/con, nhưng lượng khách gọi món ăn đặc sản này giảm hẳn. Bởi, để giảm giá thành, rút ngắn thời gian nuôi, nhiều hộ cho ăn thức ăn công nghiệp thay vì thóc, đậu tương, cá biển xay, ốc… Không những thế, vịt trời hoang dã vốn vận động thường xuyên, môi trường nuôi nhốt chật hẹp khiến lượng mỡ tăng, thịt bở, ít thơm ngon. Vì thế, họ quay về món vịt cỏ quen thuộc để thêm phần yên tâm.

Không chỉ vịt trời, nhiều vật nuôi mới sau khi được đưa về đất Cảng chỉ “sốt” trong thời gian đầu vì sự tò mò của người tiêu dùng, sau đó rơi vào vòng xoáy “Giá cao- nuôi ồ ạt- hạ giá- chất lượng giảm sút- người tiêu dùng thờ ơ”. Theo kinh nghiệm của anh Thiệu, những vật nuôi mới ở đâu cũng nuôi được rất dễ rơi vào tình trạng kể trên. Chẳng hạn với trường hợp nuôi nhím. Năm 2014, anh H. (ở xã Đại Đồng, huyện Kiến Thuỵ) hưởng ứng “phong trào nuôi nhím” bằng cách nhập 10 cặp nhím bố mẹ (12 triệu đồng/cặp) về nuôi và bỏ ra hơn 200 triệu đồng xây chuồng trại. Chưa đầy 1 năm sau, giá nhím thịt từ 400-600 nghìn đồng/kg rớt xuống còn hơn 100 nghìn đồng/kg, anh buộc phải bán tống, bán tháo toàn bộ nhím thịt trong chuồng. Sau vụ nuôi nhím thất bại, số tiền đền bù ruộng đất “đi tong”, anh H. “khăn gói” vào khu vực Tây Nguyên tiếp tục nuôi giấc mộng làm giàu với cây hồ tiêu.

Gần đây, nuôi gà lai Đông Tảo cũng khiến nhiều hộ sản xuất lao đao, trong đó có gia đình anh Phạm Văn T., (ở thôn Lê Xá, xã Tú Sơn, huyện Kiến Thuỵ). Về nước sau thời gian học tập và lao động ở Đài Loan (Trung Quốc), đầu năm 2017, anh T. quyết định làm giàu trên mảnh đất quê hương. Thấy giống gà lai Đông Tảo được thị trường ưa chuộng, anh đầu tư sửa sang chuồng trại, nhập hơn 300 gà giống về nuôi thử nghiệm. Lúc bắt đầu nuôi, gà thương phẩm trên thị trường có giá 130-140 nghìn đồng/kg, nhưng đến khi xuất chuồng, thương lái trả 70 nghìn đồng/kg. Theo họ, nuôi nhốt trong chuồng chật hẹp, cho ăn thức ăn công nghiệp nên thịt gà không bảo đảm thơm ngon, dai chắc. Bực mình, anh đem gà ra chợ bán với giá trên dưới 80 nghìn đồng/kg. Sau 2 ngày “vật vã” bán được chưa tới 10 con, hết kiên nhẫn, anh T. gọi thương lái đến bắt cả đàn rồi “treo chuồng” vô thời hạn.

Không phủ nhận hiệu quả kinh tế mà vật nuôi mới đem lại. Do sự ít cũng như một số đặc tính riêng biệt (thơm ngon, bổ dưỡng hơn…), vật nuôi mới thường được thị trường ưa chuộng, có giá bán cao hơn hẳn so với vật nuôi thông thường. Đơn cử trên thị trường thành phố, gà ta có giá 70 đến 90 nghìn đồng/kg, trong khi gà Đông Tảo thuần chủng cao gấp 4-5 lần (300-400 nghìn đồng/kg). Giá cao do ít, quy trình nuôi cầu kỳ hơn từ giống, môi trường gần gũi với điều kiện hoang dã, thức ăn chủ yếu tự nhiên, nên vật nuôi mới khá kén chọn người dùng. Không phải gia đình nào cũng đủ điều kiện kinh tế sử dụng thường xuyên.

Trước thực trạng này, để nghề nuôi vật nuôi mới phát triển bền vững, chính quyền địa phương và cơ quan chức năng cần có khuyến cáo tới người nuôi không nên chạy theo phong trào mà cần tìm hiểu kỹ về thị trường, tìm đầu mối tiêu thụ, sản xuất theo đơn đặt hàng cũng như tuân thủ quy trình nuôi bảo đảm về cả hình thức lẫn chất lượng.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Người sản xuất vẫn trăn trở