(HPĐT)- Trước thực tế ngày càng có nhiều chủ doanh nghiệp không thực hiện nghiêm túc việc trả lương, thưởng cho người lao động, từ đó phát sinh các vụ ngừng việc tập thể, ảnh hưởng đến trật tự trị an và hoạt động sản xuất- kinh doanh. Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động có hiệu lực thi hành từ ngày 17-1- 2022. Luật sư Trần Văn Tám, Văn phòng luật sư hợp danh VIP trao đổi với phóng viên Báo Hải Phòng về một số vấn đề nổi bật của nghị định trên.

Công nhân Công ty cổ phần may Thuận Thiên (huyện An Lão) trong giờ làm việc. Ảnh: Trung Kiên
- Luật sư cho biết những điểm mới của Nghị định 12/2022/NĐ-CP của Chính phủ về xử lý vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)?
- Điều 39 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định những mức phạt mà người sử dụng lao động không thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với người lao động (NLĐ) liên quan đến việc đóng và chốt sổ BHXH. Cụ thể, phạt tiền từ 1 triệu đến 3 triệu đồng khi vi phạm với mỗi NLĐ, nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động không thực hiện thủ tục xác nhận về việc đóng BHTN cho NLĐ, để NLĐ hoàn thiện hồ sơ hưởng BHTN. Trước đây, tại Nghị định 28/2020/NĐCP ngày 1-3-2020, hành vi này chỉ bị phạt từ 500 nghìn đến 1 triệu đồng nên chưa đủ sức răn đe. Ngoài ra, hành vi không niêm yết công khai thông tin đóng BHXH của NLĐ do cơ quan BHXH cung cấp theo quy định; không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ thông tin về đóng BHXH bắt buộc, BHTN của NLĐ khi NLĐ hoặc tổ chức Công đoàn yêu cầu, chủ doanh nghiệp cũng sẽ bị phạt từ 1 triệu đến 3 triệu đồng, trong khi trước đó, hành vi này không bị xử lý.
Điểm đáng chú ý trong nghị định kể trên là việc chậm đóng BHXH bắt buộc, BHTN; đóng BHXH, BHTN không đúng mức quy định mà không phải là trốn đóng; đóng BHXH, BHTN không đủ số người mà không phải là trốn đóng… sẽ bị xử phạt nặng. Cụ thể, chủ sử dụng lao động sẽ bị phạt tiền từ 12-15% trên tổng số tiền phải đóng BHXH bắt buộc, BHTN nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng. Mức phạt tiền từ 50 triệu đến 75 triệu đồng khi chủ doanh nghiệp trốn đóng BHXH bắt buộc, BHTN nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu vi phạm những hành vi trên, ngoài mức phạt tiền, chủ sử dụng lao động còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là đóng đủ số tiền BHXH bắt buộc, BHTN phải đóng cho cơ quan BHXH.
Những điểm mới về tăng mức xử phạt tại Nghị định 12/2022/NĐ-CP sẽ hạn chế chủ sử dụng lao động chiếm dụng, chiếm đoạt, chậm nộp về cơ quan BHXH, khiến NLĐ thiệt thòi khi thôi việc cũng như hưởng các chính sách liên quan đến BHXH.
- Theo nghị định trên, doanh nghiệp có trách nhiệm gì trong việc công khai thang bảng lương, bảng kê trả lương?
- Tại khoản 1 Điều 17, nghị định quy định phạt tiền từ 5 triệu đến 10 triệu đồng đối với người sử dụng lao động khi không công bố công khai tại nơi làm việc trước khi thực hiện thang lương, bảng lương; mức lao động; quy chế thưởng; không xây dựng thang lương, bảng lương hoặc định mức lao động; không áp dụng thử mức lao động trước khi ban hành chính thức; không tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khi xây dựng thang lương, bảng lương; định mức lao động; quy chế thưởng; không thông báo bảng kê trả lương hoặc có thông báo bảng kê trả lương tới người lao động nhưng không đúng quy định; không trả lương bình đẳng hoặc phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau.
Như vậy, người sử dụng lao động phải công khai thang bảng lương, bảng kê trả lương để không bị xử phạt. Vấn đề này được quy định trước đó, nay tăng mức phạt nhằm tăng cường chế tài xử phạt các vi phạm của bên sử dụng lao động về vi phạm công khai thang bảng lương, bảng kê trả lương, đồng thời tạo sự đồng thuận giữa người lao động và doanh nghiệp về lương, thưởng, hạn chế tối đa tranh chấp lao động, đình công kéo dài.
Nghị định 12/2022/NĐCP là hành lang pháp lý, cơ sở để buộc các doanh nghiệp thực hiện đúng, đầy đủ quyền lợi của NLĐ, tạo cơ sở pháp lý để cơ quan chức năng xử lý vi phạm dễ dàng hơn. Cùng với đó, tạo sự đồng thuận cao giữa người lao động và người sử dụng lao động trong phân phối thu nhập, góp phần giảm thiểu ngừng việc tập thể, qua đó bảo đảm an toàn trật tự, ổn định và phát triển sản xuất, kinh doanh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong tình hình bình thường mới, khi dịch bệnh COVID-19 trở thành bệnh đặc hữu.
- Cảm ơn luật sư!
MINH CHÂU (thực hiện)