
Bến cảng Nhà rồng - nơi Bác Hồ rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh tư liệu
(HPĐT)- Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, cách mạng Việt Nam có nhiều chuyển biến mới trong bối cảnh phong trào giải phóng dân tộc thoát khỏi sự xâm lược và cai trị của các nước thực dân, đế quốc diễn ra ở nhiều nơi trên khắp các châu lục. Tại Việt Nam, các phong trào yêu nước dù hình thức bạo động hay cải lương đều bị thất bại. Với trí tuệ, lòng yêu nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành sôi sục quyết tâm tìm một con đường mới cho cách mạng Việt Nam. Hành trình đầy gian nan ấy không chỉ hình thành trong Nguyễn Tất Thành một lý tưởng mà còn là giá trị cốt lõi đưa Việt Nam thoát khỏi cách áp bức thống trị, thành công trên con đường giành lại tự do, độc lập…
Tầm nhìn, tư duy tự chủ và bản lĩnh Nguyễn Tất Thành
Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê xứ Nghệ, từ nhỏ, Nguyễn Tất Thành đã chứng kiến tủi nhục, đắng cay của người dân trong cảnh nước mất nhà tan; cảnh đè nén, áp bức của thực dân Pháp và triều đình tay sai đối với các tầng lớp nhân dân. Mang trong mình truyền thống yêu nước bất khuất, Nguyễn Tất Thành sớm hình thành khát vọng, hoài bão tìm đường cứu nước, đem lại “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”[1]. Người chọn hướng sang phương Tây, nơi sản sinh ra khẩu hiệu “Tự do-Bình đẳng-Bác ái” mà Người đã đón nhận ở độ tuổi trạc mười ba để “tìm hiểu xem đằng sau những từ tự do, bình đẳng, bác ái, ẩn giấu cái gì”[2]. Đây là động lực mạnh mẽ cho hành trang để người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
Ngày 5-6-1911, với cái tên Văn Ba, Nguyễn Tất Thành xin làm bồi bếp trên chiếc tàu lịch sử mang tên Amiral Latouche Tréville bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước với ý chí và hoài bão cách mạng. Từ nơi đặt chân đầu tiên là thành phố cảng Marseille ở miền Nam nước Pháp, Người bôn ba khắp các châu lục để khảo cứu, tìm tòi nhiều khía cạnh của đời sống nhân dân các nước, nhất là những nước từng diễn ra các cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu như Pháp, Mỹ và Anh. Người có nhận xét sâu sắc về bản chất thực của các cuộc cách mạng tư sản: Các cuộc “cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”[3].
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công, mở ra kỷ nguyên mới cho thế giới, với sự nhạy cảm chính trị, Nguyễn Tất Thành từ Anh trở về Pháp và tích cực hoạt động trong phong trào công nhân Pháp và gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Vào tháng 6-1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước ở Pháp, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người đã ký tên và gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm đến Hội nghị Versailles đòi quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của nhân dân Việt Nam. Dù không được chấp nhận nhưng từ đây Nguyễn Ái Quốc nhận ra: “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”[4]. Song, làm cách nào, theo hướng nào để giải phóng dân tộc thành công, Người vẫn chưa câu trả lời.
Bắt gặp chủ nghĩa Lênin qua bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanité vào tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc tìm được lời giải cho con đường giành độc lập dân tộc. Người đã cảm động, tin tưởng khẳng định:“Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Sự kiện lịch sử này đã dẫn Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến Chủ nghĩa Mác-Lênin, đánh dấu sự đổi thay về chất trong tư tưởng của Người. Khẳng định đây là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”, Người quyết định chọn chủ nghĩa Mác-Lênin, chính thức hướng sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Người nói: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”[5].
Đón nhận, vận dụng thành công, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin
Đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy chân lý khoa học, cách mạng và xác định được mục tiêu rõ ràng của hành trình cứu nước, Nguyễn Ái Quốc tích cực tham gia hoạt động nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm truyền bá những tư tưởng, lý luận của Mác-Lênin vào phong trào cách mạng ở các dân tộc thuộc địa, bị áp bức. Người chuẩn bị các tiền đề cần thiết cho sự ra đời của một chính đảng vô sản ở Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 là bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam với đường lối cách mạng đúng đắn, khách quan, đáp ứng đòi hỏi của dân tộc, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Đảng trở thành nhân tố, điều kiện tiên quyết dẫn đến thành công của cách mạng Việt Nam gắn liền với những dấu mốc trọng đại của đất nước như Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hai cuộc kháng chiến cứu nước trường kỳ và công cuộc 35 năm đổi mới hiện nay.
110 năm trôi qua, sự kiện ngày Nguyễn Tất Thành quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước là mốc son mở đầu cho lịch sử của dân tộc Việt Nam, mở đầu con đường độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, dẫn đến thành công trong xây dựng nền chính thể cộng hòa dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Đón nhận, vận dụng thành công chủ nghĩa Mác-Lênin vào sự nghiệp giải phóng dân tộc ta khỏi nô dịch của chủ nghĩa thực dân, Người không chỉ góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa kiểu cũ, đồng thời làm phong phú, làm giàu thêm kho tàng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Đối với các thế hệ mai sau, sự kiện Bác ra đi tìm đường cứu nước, tìm ra lời giải cho câu hỏi lớn của dân tộc luôn là tấm gương về tinh thần yêu nước, sự hy sinh cao cả cũng là một bài học quý báu về ý chí, nghị lực, về bản lĩnh và tư duy độc lập tự chủ, tận trung tận hiếu của Người./.
[1] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2012, tr.127
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011, tr.461
[3] Hồ Chí Minh: toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011, tr.296
[4] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2005, tr.35-36
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011, tr.563
TS. NGUYỄN ĐÌNH HOÀNG, Trưởng Khoa Xây dựng Đảng - Trường Chính trị Tô Hiệu