(HPĐT)- Tên khai sinh cũng là bút danh ghi trong các tác phẩm thơ văn của anh là Nguyễn Thanh Tuyên. Quê xã Trực Phương, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Nguyễn Thanh Tuyên cũng như nhiều chàng trai, cô gái thời những năm 60 hồi thế kỷ trước, thích khai tăng tuổi mình để chóng được làm người lớn, thi vào các trường đại học, trung học chuyên nghiệp, đi bộ đội, thanh niên xung phong, bay nhảy đó đây cho thỏa chí tang bồng.

Nhà biên kịch Tô Hoàng Vũ, Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng trao hoa chúc mừng bác sĩ, nhà thơ Nguyễn Thanh Tuyên trong chương trình ra mắt tập sách “Thơ văn và cảm nhận Nguyễn Thanh Tuyên”.
Lần đầu gặp ở Trại sáng tác văn học trên Tam Đảo, nom gương mặt anh hiền, phong thái thanh nhàn, nói cười khiêm thiện, tôi thầm đoán anh làm nghề dạy học, thầy thuốc, hay viên chức công sở nào đó. Lúc ấy tôi còn nghĩ rằng con người này trên đường đời hẳn thuần gặp những êm đềm, bình lặng thôi chứ chẳng hề biết đến gian lao, khổ ải là gì nên nom thần sắc mới được tươi nhuận, an nhiên như thế chứ.
Sau này, gần gũi với nhau rồi tôi mới biết sự đoán mò của mình hồi nào về anh chỉ đúng được về cái nết sống khoan hòa, khu xử chí tình chí nghĩa với mọi người. Còn những nếm trải cuộc đời, cùng cách hiến thân thời trai trẻ của anh với nghề y và thơ văn thì còn xa mới thấu sát được.
Khai sinh sớm hai năm, Nguyễn Thanh Tuyên đủ tuổi thi vào Trường trung cấp Kỹ thuật viên thuộc Viện Sốt rét Ký sinh trùng và côn trùng Trung ương. Sau vài năm đèn sách, năm 1967, anh tốt nghiệp hạng ưu và được giữ lại trường làm giáo vụ kiêm hướng dẫn kỹ thuật thực hành.
Năm 1971, cuộc kháng chiến chống Mỹ vào giai đoạn quyết liệt, Viện Sốt rét có đợt điều cán bộ đi phục vụ chiến trường, Nguyễn Thanh Tuyên không có tên trong danh sách đợt ấy. Nhưng vì một đồng nghiệp trở ngại không đi nên Viện điều động anh thay thế. Nhận quyết định đi B, 4 tiếng đồng hồ sau Nguyễn Thanh Tuyên phải giã từ Hà Nội, gia đình, người yêu, kịp lên đường ra mặt trận.
Là kỹ thuật viên chuyên khoa Côn trùng, Nguyễn Thanh Tuyên được phân bổ vào Ban Dân Y Trị -Thiên tham gia phòng, chống sốt rét phục vụ quân và dân đang sống, chiến đấu ở hậu cứ Trường Sơn. Đêm đêm anh cùng đồng nghiệp vào rừng già lấy thân mình làm mồi nhử cho muỗi đốt, rồi nhốt muỗi vào ống nghiệm đem về phân định các loài Anophen góp phần tìm các biện pháp phòng trừ.
Trong những khuya lặng lẽ làm việc giữa rừng sâu, núi thẳm bom đạn mịt mùng, Nguyễn Thanh Tuyên chợt muốn làm thơ. Và, anh viết những dòng thơ đầu tiên của đời mình.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nguyễn Thanh Tuyên trở ra Hà Nội rồi về Hải Phòng công tác. Anh quyết định tiếp tục học để nâng cao trình độ. Năm năm trên chiến trường, hơn chục năm làm kỹ thuật viên, Nguyễn Thanh Tuyên vẫn thi đỗ rồi vào học Đại học Y hệ chính quy. Sau 6 năm học tập, nhận bằng bác sĩ, Nguyễn Thanh Tuyên được điều về công tác ở Ban Bảo vệ Sức khỏe Cán bộ thành phố Hải Phòng.
Cuộc sống vất vả, nhiều khó khăn, tổ ấm của vợ chồng anh luôn tràn đầy tiếng cười con trẻ và niềm vui sum vầy. Nhiều lúc, anh lại nhớ những đồng nghiệp gắn bó thời lửa đạn mãi không về. Rồi hình ảnh những người mẹ, người chị, người em nhỏ dân tộc Pa Kô, Vân Kiều đùm bọc, nhường cơm, sớt muối nuôi anh những ngày ở núi rừng Trường Sơn lại hiện về trong ký ức của anh. Vậy là Nguyễn Thanh Tuyên mang chiếc ba lô cũ, gia tài của hồi cơm vắt ngủ hầm ra tìm những bài thơ tập viết ngày nào ra đọc. Cảm xúc im lắng bấy nay lại bừng lên như than hồng, như lửa cháy hối thúc anh đến với thơ. Và niềm khát khao giục Nguyễn Thanh Tuyên cầm bút. Anh mê đắm dâng hiến cho thơ. Lúc nào cũng nghĩ đến thơ, có được chút thời gian nào anh lại sáng tác.
Khoảng chục năm cuối của thế kỷ trước, Nguyễn Thanh Tuyên có khá nhiều thơ xuất hiện trên các báo, tạp chí Trung ương và địa phương. Anh góp thơ in chung cùng một nhóm tác giả trong các tập Hoa muống biển, 1996; Người miệt biển, 1997 đều do Nhà Xuất bản Hải Phòng ấn hành. Số lượng thơ xuất hiện đều đặn trên thi đàn ghi nhận khả năng và sức lao động vì thơ và cho thơ của Nguyễn Thanh Tuyên.
Tiếp đó, anh xuất bản tập thơ riêng: Tiếng Vọng, rồi lần lượt nhận được các giải thưởng: Giải Nhì, cuộc thi sáng tác về đề tài Môi trường do Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng tổ chức; Giải Tư, cuộc thi thơ của Tạp chí Văn Nghệ Quân đội, 2 năm ( 2002- 2004); Giải Ba, cuộc thi thơ Tạp chí Cửa biển, 2005; và một vài giải thưởng thơ khác nữa.
Với tập thơ Tiếng Vọng, người đọc khắt khe cũng dễ đồng cảm với những bài thơ thấm đẫm tình đời, tình người ấy của Nguyễn Thanh Tuyên. Những thi phẩm trong Tiếng Vọng được tác giả viết bằng nguồn cảm xúc hồn hậu, đằm chín, thi tứ cũng như ngôn ngữ thơ luôn tạo ra một trường lực cuốn hút, bởi cái đẹp của tiết điệu, của thi cảnh và cả tâm tình người viết gửi gắm trong từng con chữ thơ nữa. Trong loạt bài viết về chiến tranh, bài Tiếng vọng là một đề từ mở đầu của tác giả hoài nhớ ân nghĩa về một thời đã qua: “Nhớ a- trói a- đư* gùi ta qua dốc đói/ Mắt em nhìn lui cơn sốt chiều mưa/ Vị mặn ngấm sâu sáng như hạt muối/ Gạo nương dụm dành khắc khoải câu thơ. Hay: Bom dội thế vẫn nguyên lành nỗi nhớ/ Dẫu trỏ trăn tim đều nhịp đến giờ/ Bao ưu tư chất đầy hồn mắc nợ/ Biền biệt đi ngày ấy chưa về”.
Hòa bình trở về hậu phương rồi mà Nguyễn Thanh Tuyên vẫn canh cánh nỗi niềm về những người ở vùng căn cứ xưa đã bớt vất vả đói nghèo? Anh ước: “ Xin trẻ lại cùng ba lô dép lốp/ Áo lại xắn tay, đội mũ tai bèo/ Rải Atsphall đường xưa lối cũ/ Tìm tiếng vọng của mình nơi vách đá suối reo…”. Bài thơ Tiếng Vọng đã mang đến cho anh giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Có thể nói, Nguyễn Thanh Tuyên làm nhiều thơ về chiến tranh, và anh khá thành công ở mảng đề tài này.
Tuy nhiên, kiểm đếm “gia tài” thơ của Nguyễn Thanh Tuyên có được đến ngày tháng năm này, anh không chỉ đơn nhất viết những bài thơ về cuộc chiến, mà bằng năng lực, vốn sống và sự trải nghiệm của mình, anh còn sáng tác nhiều thơ về các đề tài khác, trong đó có đề tài tình yêu. Khi đã ở tuổi không còn trẻ nữa, nhưng anh vẫn giữ được hoài niệm hồn hậu và thật là thơ trẻ: Cầu ao, sét đánh đầu đời/ Vào đêm trăng tỏ bầu trời vắng mây/ Lặng nhìn bậc đá còn đây/ Bỗng dưng chớp giật giữa ngày nắng chang (Kỷ niệm).
Sau này, công chúng yêu thơ và bạn thơ của Nguyễn Thanh Tuyên nhận thấy thơ anh ngày càng có phần “ kiệm lời, kỹ chữ”, bớt đi sự dàn trải, phô bày, để dồn nén vào ý tưởng, và tạo ra được một nhịp điệu mới trong mỗi tác phẩm của mình. Vậy mà Nguyễn Thanh Tuyên chưa bao giờ nhận là nhà thơ. Anh coi mình chỉ là dân “tay ngang”- một bác sĩ mê thơ và làm thơ thôi.
Nhà thơ Nguyễn Thanh Tuyên rời xa bè bạn và công chúng yêu thơ nhiều năm rồi. Mỗi lần nhớ đến anh, đọc lại những câu thơ của anh, lại thấy lòng dâng lên những cảm xúc khó tả. Tôi lại thấy nhớ anh, bác sĩ – nhà thơ với nụ cười hiền, dễ gần, hết lòng với thi ca từ lần gặp đầu ở trại sáng tác Tam Đảo năm ấy./.
Nhà văn Vũ Quốc Văn - Ảnh: Đinh Thường