Trong hồi ký để lại, ông Lý Văn Sáu đã đúc kết về Khánh Hòa - nơi bắt đầu con đường cách mạng của mình như vậy.
“Xứ trầm hương cho tôi hai của báu
Một con đường cách mạng
Một hòn ngọc để yêu thương và chiếu sáng con đường!”
Lý Văn Sáu (1924-2012), một người con của quê hương xứ Nghệ, đã ghi vào lịch sử báo chí cách mạng nước ta những dấu ấn mang tầm vóc quốc tế.

Những di sản quý
Là cậu ấm con quan tri huyện Vạn Ninh Nguyễn Trọng Thuần, người xây nhà trường đầu tiên ở làng Yên Nhân để dạy quốc ngữ và dựng ngôi chợ đầu tiên trên bờ sông Hàn cho bà con nghèo có chỗ mưu sinh,Nguyễn Bá Đàn (tên khai sinh của Lý Văn Sáu) tốt nghiệp tú tài toàn phần hạng ưu Quốc học Huế, ngay từ năm 1944 đã tham gia hoạt động truyền bá quốc ngữ cho những người dân lao động ở chợ An Cựu. Khi người cha thân sinh bị bắt, di lý về Nha Trang, hoàn cảnh éo le đã hối thúc người con trai hiếu thảo lặn lội từ quê nhà vào Khánh Hòa và gắn bó với xứ sở trầm hương từ đó.
Nam bộ kháng chiến (23-9-1945), chàng thanh niên xông xáo làm cách mạng Nguyễn Bá Đàn 21 tuổi được chỉ định làm Trưởng ty Thông tin tỉnh. Năm 1946, khi báo Thắng - tiền thân của báo Khánh Hòa ngày nay, ra đời tại chiến khu Hòn Dũ, anh được tin tưởng giao làm chủ bút ở tuổi 22. Báo Thắng in trên đá, mỗi tháng ra vài ba số, mỗi số chỉ vẻn vẹn 4 trang và lượng in khiêm tốn chỉ từ 600 - 700 bản nhưng đã có vị trí trong lòng độc giả. Anh đồng thời là chủ biên tờ báo địch vận phát hành bằng tiếng Pháp mang tên Le Trait d’Union (Cái gạch nối) lúc bấy giờ. Năm 1949, khi Đài Tiếng nói Miền Nam Liên Khu 5 ra đời, Nguyễn Bá Đàn nhận nhiệm vụ biên tập viên rồi làm Phó giám đốc Đài.
Suốt cuộc đời mình, từ Nguyễn Bá Đàn thời trẻ đến Lý Văn Sáu - tên gọi chính thức sau này của ông, làm cách mạng là làm báo, làm ngoại giao cũng là để làm báo cách mạng. Ông từng nói về mình: “sống với báo, chết với báo”!
Những năm 60, ông là nhân chứng trực tiếp chứng kiến lãnh tụ Fidel phát biểu: “Vì Việt Nam, chúng ta sẵn sàng hiến dâng đến cả máu của chính mình” tại cuộc mít tinh có sự tham dự của hơn một triệu người ở Quảng trường Cách mạng La Habana, thủ đô Cuba.
Những năm 1968-1973, giới báo chí quốc tế bắt đầu biết đến “quý ngài cộng sản” Lý Văn Sáu nhiều hơn khi ông được chọn làm người phát ngôn của Mặt trận rồi Chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris, với những cuộc họp báo thường xuyên, được ví như những cuộc đấu trí, những trận đánh bên lề bàn đàm phán chính thức.
Lịch sử cách mạng đã ghi nhận thắng lợi của Hội nghị Paris ngoài yếu tố vũ trang có tính quyết định, là sự cộng hưởng của ngoại giao chính trường, ngoại giao nhân dân và ngoại giao báo chí. Chính nhà báo Lý Văn Sáu góp phần làm nên những huyền thoại của ngoại giao báo chí lúc đó.

Sau phiên họp đầu tiên của Hội nghị Pari ngày 25-1-1969, ta tổ chức cuộc họp báo đầu tiên. Một cuộc họp báo có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Một nhà báo Mỹ chỉ tay vào tấm bản đồ hỏi: "Mặt trận các ông thường khoe là kiểm soát được tới hai phần ba lãnh thổ Nam Việt Nam, vậy ông vui lòng chỉ cho tôi xem trên tấm bản đồ này các vùng giải phóng đó ở đâu?". Lý Văn Sáu điềm tĩnh với câu trả lời xuất thần: "Điều ông hỏi cũng là điều Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn muốn biết. Xin ông hãy đọc thông báo quân sự của Mỹ ngày hôm nay, xem máy bay của họ ném bom nơi nào ở miền Nam Việt Nam, những nơi ấy chính là vùng giải phóng của chúng tôi đấy". Khắp phòng họp vang lên tiếng vỗ tay của anh em ta và cả các nhà báo quốc tế đang có mặt… Câu trả lời khôn khéo, sắc sảo, không chút sơ hở, chặt chẽ và đầy bản lĩnh. Đó là thời điểm sau Mậu Thân, địch nống ra đánh chiếm nhiều nơi, vùng giải phóng cũng đồng thời là vùng cài răng lược (ban đêm là của ta, ban ngày của ngụy). Câu trả lời phải cụ thể mà vẫn chắc chắn, giữ được bí mật.
Tại cuộc họp báo khác, một nhà báo Pháp hỏi: "Ông nghĩ gì về việc trưởng đoàn Sài Gòn khoe khoang bản chất tốt đẹp của chính quyền họ?"; người phát ngôn Lý Văn Sáu dõng dạc đáp lời: "Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn chính quyền Sài Gòn tự cho mình là độc lập, dân chủ, yêu nước". Bất ngờ vì ông cộng sản vô thần thuộc Kinh thánh và vận dụng tài tình đúng kiểu Phương Tây như thế, tờ báo công giáo La Croixt phát hành ngày hôm sau đã mô tả: "Người phát ngôn Việt Cộng cũng đang dùng ngụ ngôn trong Kinh Thánh!".
Khi bom B52 Mỹ rải thảm khắp vùng chiến khu nhưng không tiêu diệt được cơ quan đầu não của ta, một nhà báo nước ngoài tò mò: “Trung ương Cục của ông biến đi đâu mà tài thế?” Ông Sáu đĩnh đạc chỉ tay vào ngực trái: “Lãnh đạo của chúng tôi ở trong lòng dân nên Mỹ không thể nào tìm bắt họ được. Có thể giờ này họ đang ở Sài Gòn!”.
Vốn tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Tây Ban Nha nhờ tự học mà trở nên điêu luyện đã góp phần làm nên một Lý Văn Sáu xuất sắc ở cả hai lĩnh vực báo chí và ngoại giao. Tác phong, trình độ và bản lĩnh Lý Văn Sáu trên chính trường quốc tế càng làm cho thế giới hiểu và khâm phục Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ sinh tử.
Từ 1973, Lý Văn Sáu lần lượt giữ nhiều cương vị khác nhau, khi là Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền, văn hóa của Ban Miền Nam (Ban Thống nhất), khi là Phó giám đốc thứ nhất Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, rồi Phó Chủ nhiệm Ủy ban Phát thanh Truyền hình Việt Nam kiêm Tổng Biên tập Đài Truyền hình Trung ương; Tổng Biên tập Đài Tiếng nói Việt Nam; Phó tổng Biên tập Thông tấn xã Việt Nam; Phó chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Cuba...
“Bức thư tình ba điểm”
Cuối năm 1948, tại vùng chiến khu Hòn Hẻo, Ninh Hoà, Khánh Hoà, nơi máy bay Pháp mấy ngày trước vừa tới thả bom đánh phá, một đám cưới giản dị đã diễn ra vào một đêm trăng sáng. Được biết, đây là đám cưới đầu tiên tại vùng căn cứ tỉnh tính từ ngày bắt đầu kháng chiến. Chú rể là nhà báo Nguyễn Bá Đàn, cô dâu là một người con gái Khánh Hoà xinh đẹp, một cán bộ phụ nữ xã. “Tiệc cưới” được lo liệu từ 20 đồng bạc Đông Dương do tỉnh uỷ Khánh Hoà cấp cho đôi uyên ương, với một nồi chè lớn đãi khách nấu bằng nếp và đường đen nhờ đồng bào mua giùm.
Sau này, mỗi khi nhắc đến đám cưới chiến khu đơn sơ và ấm cúng ngày nào, ông Lý Văn Sáu nói với con cháu của mình rằng: “Đó là một đoạn đời đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong cuộc sống của ba má và là xuất phát điểm của gia đình chúng ta”.
Bước ngoặt ấy bắt đầu từ cuộc gặp duyên kỳ ngộ trên đường công tác của đôi bên vào một buổi sáng tinh mơ mùa xuân năm 1948 tại khu rừng dưới chân núi Chúa. Chàng thanh niên 24 tuổi được cử ra vùng tự do Liên khu 5 dự Hội nghị thông tin Liên khu, bất ngờ gặp cô cán bộ phụ nữ trẻ măng 17 tuổi, mặc bộ đồ bà ba đen giản dị. Cô tên là Ngọc Ánh, là một cô gái thành phố thoát ly gia đình theo cách mạng. Họ cùng nhau băng rừng, vượt suối để kịp đến điểm tập kết trước khi trời tối. Quảng đường đầy muỗi mòng song cũng là quãng đường đẹp nhất trong ký ức của hai người trẻ tuổi. Rồi họ chia tay nhau, không nghĩ có ngày được gặp lại.

Mùa thu năm đó, chàng nhà báo trẻ tuổi sau khi vượt biển đã đặt chân lên vùng đèo Rù Rì đầy cỏ tranh lúp xúp để chờ thuyền bơi ra Hòn Tre. Tại trạm giao liên, vô tình nghe tin cô Ánh bấy giờ đang sốt cao, nằm trú dưới làng chài, anh liền xuống tìm cô, kịp lưu lại hỏi han chừng mươi phút. Đêm đó, anh Đàn theo ghe ra biển, ghé Bãi Trủ và gặp mấy cán bộ của ta đang trên đường vào bờ. Dưới ánh đèn bão, anh hạ bút viết một bức thư tình độc đáo gồm ba điểm ngắn gọn và nhờ đồng chí của mình đem đến tận tay cô Ánh. Bức thư nguyên văn như sau:
“Chị Ngọc Ánh,
Sau mấy lần gặp Chị tôi rất có cảm tình với Chị và xin được đặt vấn đề như sau:
1.Nếu Chị cũng có cảm tình với tôi thì ta sẽ cùng nhau tìm hiểu.
2.Nếu Chị không muốn thì ta vẫn là bạn của nhau.
3.Nếu Chị đã có nơi khác thì tôi xin rút.
Chúc Chị mau lành bệnh và công tác tốt. Biết lúc nào mới gặp lại Chị”.
Một tuần sau, bức thư trả lời đến tay người nhận, ngắn hơn, chỉ một câu:
“Em đồng ý điểm 1 của anh”.
Và hai tháng sau là cuộc gặp thứ ba và tiếp đến là đám cưới của họ.
Ông Sáu kể đó là bức thư tình đầu tiên và duy nhất ông gửi cho người phụ nữ yêu quý của ông! Bởi những bức thư về sau “chỉ là bức thư chồng vợ, nói chuyện yêu thương, công việc, gia đình”!
Ngay cả tên chính thức của ông cũng là tên ghép: chữ đầu là Lý - tên người chị ruột và Sáu - tên gọi ở nhà của vợ - cô Sáu Ánh, bà Ngô Thị Ngọc Ánh.
Ông bà đã đến với nhau và bắt đầu một tình yêu thật giản dị, nhưng thuỷ chung, son sắt đến tận phút giây cuối cùng. Họ có cùng nhau những đứa con xinh đẹp, giỏi giang. Người là đại sứ ở châu Âu, người là cơ trưởng một hãng hàng không lớn của đất nước… Con rể ông là Trung tướng, nguyên Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân Dân, nhà báo Phúc Nguyên. Cháu chắt của ông nhiều người theo ông làm báo, tiếp tục nghề báo một cách đam mê và trách nhiệm.
*
Cuộc đời của một nhà báo – chiến sĩ, nhà ngoại giao cách mạng Lý Văn Sáu gắn bó chặt chẽ với những giai đoạn lịch sử của báo chí nước nhà, gắn với sự ra đời và phát triển của nhiều loại hình báo chí hiện đại ở nước ta, từ báo in, báo nói, báo thông tấn đến báo hình…
Những di sản báo chí mà ông để lại, sẽ mãi là của báu cho những người làm báo hôm nay!
KIM HOA