(HPĐT)- Truyện viết về một hòn núi mà những ai yêu địa lý và văn hóa nước nhà đều từng biết, đó là núi Dục Thúy, hay còn có tên khác là Non Nước. Hòn núi ấy được mang ra soi chiếu dưới nhiều góc độ, như nghiên cứu một con người, để thấy sự thăng trầm, biến cải đầy chìm nổi trước dòng chảy thời gian. Ngày xưa có 57 bài thơ khắc trên vách núi, giờ chỉ còn một nửa, những bài thơ còn lại ở đâu? Truyện liên tục đặt ra những câu hỏi như vậy, và chỉ ngọn núi mới có thể trả lời được. Nhưng núi thì muôn đời im lặng. Người hỏi sẽ phải tự trả lời, bạn đọc sẽ phải tự trả lời, và người đời sẽ phải tự trả lời nếu muốn tìm hiểu lịch sử dài rộng của ông cha mình, dân tộc mình, đất nước mình. Cách đặt vấn đề của truyện thật lý thú, độc đáo và khác lạ, thôi thúc sự lý giải cùng những khát khao khám phá. Ý nghĩa của văn chương, ở một khía cạnh nào đó, còn là như thế nữa.

Minh họa: Đặng Tiến
Nhà văn Nguyễn Đình Tú
“Quê tôi có nhiều núi đá vôi…”, tôi hào hứng nói với mọi người trên xe. Lần đó tôi đi dự trại sáng tác của một tờ tạp chí. Trại có mười lăm trại viên từ nhiều tỉnh, thành phố hợp lại, phần nhiều mới gặp nhau lần đầu, nhưng tên có thể biết nhau qua tác phẩm. Dọc đường từ Nam ra Bắc bất ngờ có người đề xuất tiện đường mình ghé chơi núi Dục Thúy cho biết. Ông là Nguyên Bang, bút hiệu và cũng là tên thật. Tôi đọc tác phẩm của ông đã lâu và nay mới gặp lần đầu. Ông ngồi đầu dãy ghế bên phải, tôi ngồi đầu dãy bên trái, chỉ cách nhau lối đi ở giữa, rất gần, nên đề xuất của ông tôi nghe rõ nhất. Ông nói ngày xưa các vị vua chúa đi qua đây thường phải dừng bước, lên núi ngao du, đề thơ. Nay mình cũng sơn du thử coi có ra thơ đế vương không.
- Thơ gì là thơ đế vương ông?
- Thì cứ nói đại vậy, không trúng thì trật. Vua chúa, theo tôi nghĩ là những người không bị đói, họ lo chuyện lớn. Họ có mệnh thay mặt thần dân giao tiếp với đất trời xứ sở. Ngọn núi nào các hoàng đế thường lên ngao du gửi gắm suy tư, tất núi đó có linh khí đế vương. Không thử lên núi đứng nơi vua đã đứng, nhìn non nước vua đã nhìn, sao có thơ văn đế vương được đúng không.
- Đó đúng rồi.
Nghe thấy vui. Tôi đã sẵn có thiện cảm với ông. Đọc văn thấy ông viết hiền lành, có phần đa cảm, nhưng nay gặp thấy ông cũng vui tính, không phải người kiệm lời. Tôi xin phép gọi ông bằng thầy, dù ông nói ông nghỉ dạy từ lâu. Nhưng đó là cách xưng dễ cho tôi nói chuyện với ông nhất.
Sau đề nghị của ông, tôi nổi hứng nói chuyện với ông về núi. Tuy nói chuyện riêng, nhưng cả xe cùng nghe. Rằng quê tôi có nhiều núi đá vôi. Có tới ba dãy núi dựng đứng chắn ngang con đường thiên lý cổ suốt hàng ngàn năm. Núi có tên chữ là Tam Điệp. Chính là dãy Tam Điệp Sơn trong thơ hoàng đế Thiệu Trị nhà Nguyễn và các cụ Ninh Tốn, cụ Nguyễn Du, cụ Nguyễn Khuyến. Là Cửu Chân Quan trong thơ cụ Ngô Thì Sĩ. Duy trong ký sự của cụ Hải thượng Lãn ông Lê Hữu Trác và thơ nữ sĩ Hồ Xuân Hương, núi được gọi tên tục là Đèo Ba Dội. Đỉnh cao nhất của dãy núi từng được coi là chốn quan san quan ải giữa Giao Chỉ- Cửu Chân xưa (nghe nói vậy). Tôi còn phịa thêm, vì chốn quan san, rừng thiêng, nước độc, thú dữ hoành hành, nên khi con trai tướng quân Nguyễn Bặc bỏ chạy vào Ái Châu, vua Lê Hoàn không thèm truy đuổi!
Còn những trái núi nhỏ lẻ rải rác khắp nơi thì nhiều, người ta gọi núi mồ côi. Hồi nhỏ chúng tôi hay vào hang núi chơi, nhưng chưa lần nào dám vào đến tận cùng, vì càng vào sâu hang càng hẹp và tối. Có lần tôi nhặt được mấy vỏ sò lâu năm mòn mủn bên vách hang. Nó đã trắng ra như vôi, viết trên đá như phấn được. Tôi bâng khuâng nghĩ vào thời xa xưa nào đó biển đã ở đây. Bây giờ biển đi đâu? Lúc đó tôi chưa biết biển mới lùi xa cách đó khoảng hai mươi cây số đường bộ. Núi mồ côi tuy nhỏ,nhưng núi nào cũng có tên, có sự tích hẳn hoi. Ví như sự tích núi Cháy, núi Nấp được kể rằng có một vị thần gánh hai quả núi đi xuống biển, đi tới đây thì gãy đòn gánh...
- Sự tích này để kể cho cặp đôi núi Dục Thúy, Hồi Hạc mới đúng- Ông giáo Bang nói- Hai núi này đều mang tên hai loài chim đẹp, đều được sách cổ chép là những ngọn núi đẹp.
- Ồ, thầy biết núi Thúy, núi Hạc rồi ạ?
- Chưa. Tôi mới chỉ đi qua nhìn thấy núi Thúy một lần. Còn Hồi Hạc…
Ông kể vào cuối những năm 80 thế kỷ trước, ông ở trong đoàn giáo chức cũ được đưa ra thăm miền Bắc. Ông háo hức muốn được thấy kinh đô Hoa Lư của Đinh Tiên Hoàng xây bằng gạch “quốc quân thành chuyên”. Muốn đượcthấy bức tường thành bằng núi. Nhất là muốn được lên núi Hạc, núi Thúy một lần. Hồi nhỏ nghe kể về cậu bé Đinh Bộ Lĩnh cờ lau tập trận, thấy hồn nhiên dễ thương. Rồi đọc thơ, đọc sách về núi Hạc, núi Thúy như cảnh tiên chốn bồng lai, thích lắm. Nhưng chương trình không cho phép. Ông chỉ được người ta chỉ cho thấy núi Dục Thúy khi xe chạy qua. Còn Hồi Hạc… Lúc đó người ta nói đã “bốc hơi” lâu rồi, tức đã bị nổ mìn lấy đá rải đường hết rồi.
- Dục Thúy chắc chắn đẹp, nhưng quan trọng núi ở vị trí “thuận miền”, gần giao lộ cả thủy cả bộ, lại gần đô cũ Hoa Lư. Các bậc vua chúa khi qua đây khó mà không dừng bước ghé lại nơi đây để cảm khái cảm hoài, nghĩ về lẽ hưng vong. Các văn nhân thấy vậy cũng muốn thử cảm giác lên núi ngao du sơn thủy, giải tỏa tâm sự, rồi bị trời bắt làm thơ.
- “Đường về nam đệ nhất kỳ quan”(*). Chúa Trịnh còn cho khắc mấy chữ “Thiên nhiên diệu xảo” lên vách đá tặng núi Hạc. Cô về “sợt” trên mạng sẽ thấy, thơ khắc trên hai trái núi “gãy đòn gánh” này nhiều cỡ nào, nhất là núi Dục Thúy. Không phải nói chứ, chắc nhiều nhất núi non Đại Việt này.
Ông nói như giảng bài, làm tôi ngượng vì hồi nãy lỡ ba hoa. Quả thật về chuyện này tôi cũng chỉ biết qua sách vở như ông, nhưng lõm bõm không tường bằng ông. Thuở nhỏ chúng tôi xa lạ với mấy chữ “bồng lai tiên cảnh” hay “thi trung hữu họa”.
- “Đệ nhất kỳ quan” với “Thiên nhiên diệu xảo” cũng không cứu được núi. Đừng ai nói trăm năm bia đá nữa nghen- Ai đó trên xe nói.
- Nếu được hóa thân thành đá rải đường tàu cũng vẫn còn tồn tại theo một nghĩa nào đó. Nhưng khi đá đã nung chín thành vôi, đó mới đúng nghĩa thành cát bụi.
- Nung vôi để làm gì ta?
- Để cho các cụ ăn trầu chứ để chi.
- Ăn trầu hết có một trái núi ít vậy! Tưởng người ta ăn trầu bằng vôi nung san hô vỏ hàu chứ?
- Vôi đá cũng ăn trầu được. Tui nghe nói đá vôi là luân hồi nhiều kiếp của vỏ hàu với san hô. Không biết đúng không.
- Thời trước ở đây người ta xây nhà bằng vôi, có nơi rải bột vôi xuống ruộng chống phèn. Vôi nung từ đá vôi nó trắng mịn như bột lọc vậy đó, đẹp lắm, không như vôi vỏ hàu miền biển đâu.
- Ngày xưa tui nghe kể những người nghiện ăn trầu sau khi chết cải táng thấy một cục vôi cứng lại như đá trong huyệt. Bởi vậy phải vận động người người ăn trầu, nhà nhà ăn trầu cho nhiều vô. Để chi? Để giúp đá luân hồi trở lại. Biết đâu triệu triệu năm sau những cục vôi nhỏ sẽ hợp lại thành núi. Ủa, không tin hả. Chứ núi ở đâu ra?
Mọi người cười vui. Cho đến khi nhìn thấy những hòn núi đá vôi rải rác giữa cánh đồng và nhất là khi xe dừng dưới chân núi Thúy, họ cười òa. Đây mà là núi? Đây là hòn non bộ chớ núi gì. Ờ. Quả thật so với dãy Trường Sơn và Hải Vân quan mà chúng tôi vừa đi qua, thì những quả núi đá vôi chơ vơ giữa cánh đồng và cả núi Thúy tiếng tăm lừng lẫy cũng chỉ như những hòn núi cảnh.
Rồi khi tôi nói đây là sông Vân họ lại cười. Sông Vân Sàng đây sao? Cái tên sông Vân Sàng trong dã sử được cho là bắt đầu từ sự kiện bà thái hậu họ Dương nhà Đinh tự thân ra đón chiến thuyền của tướng quân Lê Hoàn đi đánh trận trở về. Hai người cùng nhau trên thuyền và dòng sông trở thành chiếc giường mây của họ.
- Câu chuyện hơn ngàn năm rồi- Ông giáo Bang nóiHãy tưởng tượng sông Vân một ngàn năm trước, thời còn cửa biển bãi dâu, chắc đâu như sông Vân bây giờ. Cứ suy từ sông Tô Lịch thời nhà Lý với sông Tô bây giờ thì biết.
- Ờ ha, ông thầy nói có lý.
- Còn núi. Đừng nghĩ núi đá chắc ít biển dâu hơn. Núi Dục Thúy này một ngàn năm trước tôi nghĩ chắc cũng khác. Không. Cũng không cần tới một ngàn năm. Chỉ biết vào thời Trần trên núi còn có Nghinh Phong Các, có nhà sư, chú tiểu. Dưới núi còn có tiếng sáo thuyền chài, bãi dâu bát ngát, sóng biển lớp lớp triều dâng như trong thơ xưa đã “vẽ”, thì cách nay chỉ mới mấy trăm năm chớ mấy.
Ôi, đồng minh đây rồi. Ông giáo Bang đúng là một đồng minh lớn. Ông biết nhiều về non nước quê tôi hơn cả tôi. Tôi dè dặt góp thêm:
- Có lẽ thầy nói đúng. Em nghĩ ngày xưa ít nhất núi cũng lớn hơn bây giờ. Nghe nói từng có năm mươi bảy bài thơ văn khắc trên vách núi từ thời Trần đến thời Nguyễn. Nhưng đến nay chỉ còn tìm được hơn nửa. Vậy phần vách đá từng được khắc mấy chục bài thơ văn khác đi đâu?
- Không bị xóa sổ như núi Hạc đã là an ủi rồi.
- Dạ vâng. Hồi Hạc, Dục Thúy, chắc hai núi này đẹp nên được mang tên kép, chứ những quả núi mồ côi khác chỉ có một tên một chữ như núi Voi, núi Thành, núi Nấp, núi Cháy. Hồi Hạc nghe nói còn có tên Khôi Hạc, Dục Thúy có tên Non Nước nữa.
- Tên Dục Thúy có sách chép là của Trương Hán Siêu, ông nhìn núi có hình giống con chim trả tắm trên sông nên ông gọi tên núi là Dục Thúy.
- Vâng đúng rồi. Sách viết như vậy. Nhưng em quen gọi núi Thúy thôi. Thúy là xanh. Ngọn núi xanh biếc như viên ngọc phỉ thúy của trời rơi xuống chỗ này.
- Viên ngọc phỉ thúy! Hay. Tôi thích câu chuyện này đấy- Anh bạn “nung vôi để các cụ ăn trầu” nói vui, bắt chước giọng heo rừng Pumbaa trong phim hoạt hình Vua Sư Tử.
- Ủa chứ xứ Việt mình cũng có ngọc phỉ thúy hả cô?
- Thưa có. Có núi Thúy đây. Xin mời- Tôi đùa lại Mọi người vui vẻ lên núi theo bậc cấp có sẵn, người trước người sau.
- Trời ơi mát quá- Ai đó kêu lên trước tôi.
Đúng mát thật. Mát lạnh đến gai người khi tôi lên tới sườn núi. Có lẽ vì trên núi nhiều cây xanh, thêm gió mang hơi nước dưới sông phả lên. Và tiếng chim…
- Trên non dưới nước. Đúng là hòn non bộ của trời đất. Đẹp thật.
Mọi người vừa chuyện trò, vừa tản ra theo nhóm. Thời gian không nhiều. Đúng giờ cả đoàn phải có mặt chỗ xe đậu để lên đường. Một số người xuống trước kịp vào viếng chùa dưới núi.
Khi tất cả yên vị trên xe, một người đề nghị sao không nhân tiện vào thăm Cố đô Hoa Lư luôn?
- Nếu vào phải liên hệ trước tìm người thuyết minh. Vì cũng chỉ còn đền thờ hai vua thôi, dấu tích không còn gì.
Ông giáo Bang mở máy ảnh ra xem lại những tấm đã chụp. Lúc đó máy chụp kỹ thuật số còn hiếm, ít người có. Ông nói cái máy này con ông mua cho, để mỗi lần đi đâu ông chụp chơi.
- Rồi máy kỹ thuật số sẽ thay thế dần máy chụp phim. Như viết nguyên tử đã thế chỗ cây viết máy bơm mực- Ông nói.
Viết nguyên tử, chúng tôi quen gọi bút bi, có người kêu bút Bic. Đã lâu nay tôi mới lại nghe có người gọi bút nguyên tử.
- Cô thấy gì không?
Ông chìa cho tôi xem hình một tấm bia khắc bài thơ trên vách núi bằng chữ tượng hình. Tôi cười thú nhận em không biết đọc.
Ông nói tôi cũng không đọc được, nhưng cô có thấy góc phải tấm bia có gì không? Ông zoom lại cận cảnh một góc bức hình, nói “Đây là một vết đạn”.
- Đạn này chắc phải cỡ đạn pháo…- Người ngồi cạnh ông ghé xem, nói. Tôi không biết gì về các loại đạn pháo. Tôi chỉ biết mỗi loại đạn súng trường CKC ngày trước dân quân ở làng học bắn. Nhưng đạn súng trường chỉ nhỏ bằng ngón tay út. Còn trong hình là một vết đạn khoan hơi sâu vào vách đá, phá rộng phần miệng tóe ra như vết hòn đất ném xuống bùn, làm bay mất mấy chữ trên tấm bia. Tức viên đạn phải lớn lắm. “Không chỉ có một vết này đâu”, ông giáo Bang nói và tua ngược máy ảnh tìm những tấm bia khác xen giữa những tấm chụp phong cảnh cho tôi xem. Những tấm bia khắc chữ quốc ngữ, chữ Nôm, chữ Hán đều có những bài, những câu bị trúng đạn. Có bài bị tới hai vết.
Tôi không chắc tất cả có phải là vết đạn pháo hay không. Nhưng tôi tin ông.
- Súng đạn vô tình. Đạn pháo không phân biệt vách núi có khắc thơ hay không có thơ - Ông nói
- Sao thầy chụp được hay vậy?
- Tôi có kỹ năng leo trèo- Ông đùa - Cũng không dễ chụp. Bữa nay ráng hết mức cũng chỉ chụp được chừng này, còn nhiều chỗ khó lên quá chưa chụp được. Mấy vết đạn này là bất ngờ cuối cùng.
Ông nói bất ngờ đầu tiên là cái lô-cốt trên đỉnh núi (chứ không phải Nghinh Phong Các). Dạ, nó có từ thời Pháp xâm lược, vì vị trí này quan trọng. Thứ hai là bức tượng một thanh niên bán thân. À, đó là tượng một anh hùng thiếu niên thời chống thực dân Pháp. Người anh hùng này khi mới mười lăm tuổi đã dũng cảm nhận nhiệm vụ trèo lên đỉnh núi cắm cờ búa liềm. Ra vậy. Cuối cùng là những vết đạn.
- Dạ. Tất cả những cái này đều đã có trên núi từ thế kỷ trước rồi mà thầy.
- Sách xưa không chép. Nay tới tận nơi mới biết trên núi không chỉ có bút tích các bậc đế vương, những câu thơ hướng thượng. Dục Thúy nhỏ, nhưng mang vác hơi nhiều.
Ông nhìn ra cảnh vật bên đường đang vun vút lùi lại qua cửa kính xe. Rồi đóng máy hình, nói. “Phút trước phút sau đã thành quá khứ. Vừa nãy còn len lỏi tìm chụp trên núi, giờ mấy tấm hình này đã thành của quá khứ rồi”.
Trại viết và chuyến đi thực tế ngày đó giờ cũng đã thành quá khứ. Nhưng thỉnh thoảng tôi lại nhớ tới vết đạn pháo trong mấy bức ảnh ông giáo Bang chụp được, như một ám ảnh. Tất cả đã có đó, đã ở đó từ thế kỷ trước như chính tôi đã nói với ông. Nhưng trước đó tôi chưa từng nghe, không hề biết và không để ý, cho tới hôm ấy…
------------------
(*) thơ Ngô Phúc Lâm (1722-1784)
Truyện ngắn của VÂN HẠ