Những đứa trẻ trên sông

Truyện ngắn của Nguyễn Quốc Hùng 11/05/2024 16:23

(HPĐT)- Truyện kể về cuộc sống của những đứa trẻ nơi xóm liều ven sông Cấm. Những mảnh đời côi cút, bất hạnh nhưng với sự cưu mang của người dân thông qua hình ảnh bác họa sĩ, cô Hạnh, những người công nhân làm việc ven sông Cấm… các em được đi học, được yêu thương, dìu dắt, vun đắp những ước mơ. Và ngày hôm nay, cùng với sự đổi mới, phát triển mạnh mẽ của Hải Phòng, ước mơ của các em về một tương lai tươi sáng dần trở thành hiện thực với khu tái định cư đang dần hình thành, khu công viên hiện đại đã thành hình, soi bóng nơi dòng sông Cấm. Bằng một giọng văn giản dị, nhẹ nhàng, thông qua cách xây dựng cốt truyện gần gũi, nhà văn Nguyễn Quốc Hùng khéo léo tái hiện lại cuộc chuyển mình thành phố hướng tới tương lai tươi sáng qua câu chuyện của những con người nơi xóm liều nhiều gian khó.

Minh họa: Đặng Tiến

HPCT

Mỗi khi nhìn ánh đèn rực rỡ bên kia sông An lại bần thần hỏi ông: “Khi nào nhà mình chuyển sang bên kia sông?”. Ông trả lời: “Khi nào cháu làm ra nhiều tiền”. Ông nhìn chăm chắm như muốn xắt màn đêm đặc quánh trước cửa nhà. Ánh mắt ông buồn, không biết đến khi nào túp lều của hai ông cháu mới được gọi là nhà, chứ nói gì đến chuyện có ngôi nhà khang trang.

Ấy vậy mà nay ước mơ đã thành hiện thực, chỉ ít ngày nữa ông cháu An sẽ được về khu định cư mới đang hình thành với những tòa nhà to đẹp phía xa kia. Dương Quan tức là cổng mặt trời, nơi An đang sinh sống mang cái tên thật hùng vĩ. Phía cửa sông đang mở cánh cổng đón vầng mặt trời rực rỡ đang lên. Còn xóm bờ sông lèo tèo, tối tăm của hơn chục ngôi nhà của xóm liều này sẽ thành khu công viên hiện đại thỏa sức cho An vui chơi và khám phá những nền văn hóa của các nước khác.

Nhưng! Mình còn phải phấn đấu nhiều lắm, tương lai đang chờ.

Ánh điện chói loà khi đêm trên những con tàu biển khổng lồ trên cầu cảng hơn trăm năm tuổi giờ chỉ còn nhấp nhoé những đốm vàng. Ánh ban mai lách dần qua những tảng mây bồng bềnh, hắt lên bầu trời sắc hồng rực rỡ.

Tiếng bước chân lội bùn dứt dòng suy tư của An.

Tối qua ông đi cắm lưới tới chín giờ mới về, đêm dậy từ khi nào mà giờ đã dọn xong, bước chân chút choét như tiếng rút nút cao su. An định chạy xuống giúp ông thì có tiếng gọi:

- Đi học, An ơi!- Hiền đứng trên bờ đê gọi.

An hỏi với lên:

- Vẫn còn sớm, xuống đây chờ tớ.

Hiền từ trên đê chạy ào xuống, cười xòa, nhận ra điều bất thường ở mình:

- Ờ nhỉ, bây giờ mới sáu giờ mà tớ tưởng muộn rồi. Từ lúc ngủ dậy tớ cứ thấy bồn chồn.

- Lại ngóng về nơi định cư mới chứ gì. Tớ cũng thế.

Hai đứa cùng bần thần nhìn những dây rau muống biển dưới chân. Những dây rau muống biển cố sức nhoi lên chỗ đất khô để sống, đua nhau bung ra những búp hoa tím dại. Chúng lẩn trốn mảnh vườn nhỏ có những luống rau xanh mướt mát. Có được mảnh vườn tốt bời này là do ông cần mẫn xe đất trong đê ra đổ tôn cao lên tránh nước lợ từ sông ngấm vào.

- Nhà tớ trong đê, đất không nhiễm mặn mà sao chẳng trồng được luống rau nào tốt như vườn nhà cậu.

- Việc này phải hỏi ông tớ cơ.

Vừa lúc ông từ sau nhà đi lên:

- Ông phải tìm hiểu, học hỏi những người trồng rau có kinh nghiệm, sau bao lần thất bại bây giờ mới có được mảnh vườn này.

Hiền ước ao:

- Chúng cháu mới học lớp bảy. Giá như ở lớp được học những kiến thức như ông bảo là kinh nghiệm ấy thì hay quá. Bố mẹ cháu đi tối ngày.

Ông bảo:

- Ông cũng thấy vậy, những giờ học kỹ năng sống của các cháu còn ít quá và cũng không sát thực tế.

Tiếng lịch kịch của mái chèo va vào thành mủng. Người dân xóm bờ sông chuẩn bị cho một ngày mưu sinh trên sông Cấm. Hiền nhìn bầu trời rồi rụt rè đề nghị An:

- Chúng mình chèo thuyền ra sông đi! Nhìn bầu trời đẹp chưa kìa.

Nền trời hồng rực. Những mảng mây nhỏ xếp gối đều cạnh nhau, được ánh nắng hun lên khiến chúng lấp lánh như vẩy cá vàng. Rực rỡ quá! An muốn reo lên.

- Đôi mắt trẻ thơ trong veo nhìn bầu trời, đẹp chưa kìa.

Tiếng nói oang oang làm ngắt tâm trạng của An. Là bác họa sĩ. Bác ấy ra ngoài này làm gì mà sớm thế. Vẫn chất giọng sôi nổi, bác họa sĩ như hiểu thắc mắc của hai đứa:

- Phải đi sớm mới săn được cái đẹp ở đây, ít ngày nữa không còn xóm bờ sông, không còn những người chèo mủng làm ăn trên sông. Này, hai đứa chèo mủng ra sông để bác xin một bức ký họa. Bác thấy dáng ngồi khi cái An chèo mủng đẹp lắm.

Cô Hạnh trên đê đi xuống, dài giọng nói:

- Ai chèo mà chả thế, làm gì có đẹp với không đẹp? Ông vẽ đàn bà chúng em gì mà bắp chân bện vít như thanh thép xoắn!

Hai đứa nhìn dáng người mảnh mai của cô Hạnh lùng bùng trong bộ quần áo mỏng và rộng thùng thình, bụm miệng cười. Chắc bác họa sĩ bắt cô ấy mặc thế để làm mẫu vẽ. Nhà cô bên trong đê, là bạn thân của mẹ An, chưa chồng. Đã có lần An xem bác họa sĩ vẽ cô Hạnh, buột miệng nhận xét: “Bác vẽ cô Hạnh như những miếng sắt phế thải lắp vào, cái lưng cong giống chữ C”. Bác họa sĩ phấn khích vung bút quết một đường màu xanh dọc cánh lưng cô Hạnh trên bức tranh rồi khen: “Con bé này tinh thật. Được học ở trường rồi phải không?” An rụt rè: “Dạ không. Tiết Mỹ thuật của chúng cháu mới chỉ là tập vẽ những hình cơ bản thôi. Là cháu cảm thấy thế”. Bác họa sĩ buông bút nhìn An, trầm ngâm nói: “Cái cảm của đứa trẻ như cháu được thế là tốt đấy, sau này học lên cao hơn cháu sẽ hiểu sâu về hội họa”.

Bác họa sĩ giục:

- Thế nào hai đứa, có đi với bác ra sông không?

An từ chối:

- Chúng cháu còn phải đi học.

Hiền kéo áo An, do dự:

- Hay nghỉ một hôm. Ít ngày nữa thôi chúng mình chẳng được chèo thuyền ra sông nữa.

Mấy đứa trẻ gọi nhau xuống bến, rộn ràng, hứng khởi hơn mọi ngày.

Cả xóm hơn chục đứa trẻ, chỉ có An và Hiền còn đi học ở trường. Chúng nó nói, học nhiều cũng chẳng thể chèo mủng đi nhanh hơn, cũng chẳng thể nhanh chân hơn để tranh mua bán đồ phế thải, hàng hóa.

An bồi hồi nhớ lại ngày đầu bác họa sĩ đến với xóm bờ sông.

Tiếng bác họa sĩ oang oang: “Sách tới rồi đây!” Mọi người kéo nhau lên đê đẩy giúp chiếc xe máy chở nặng sách vượt qua con dốc. Bác họa sĩ chỉ con tàu đang rời bến: “Mọi người thấy không, trước đây chỉ có tàu nhỏ nên thấy sông Cấm rộng mênh mông. Bây giờ, con tàu kia vẫn thuộc loại tép vậy mà nó quay mũi đã chắn ngang cả dòng sông, vật vã cào bùn rời bến. Rồi sau này, bến cảng phải chuyển ra nơi nước sâu thì mới đáp ứng được xu thế phát triển. Vậy thì những đứa trẻ xóm này lớn lên sẽ làm gì để sống nếu không có kiến thức?”. Rồi bác chỉ những cuốn sách giáo khoa nói: “Kiến thức ở đây chứ ở đâu nữa!”. Bác họa sĩ thuyết phục các gia đình cho bọn trẻ đến lớp.

Ngày đầu được đi học bọn trẻ thích lắm. Nhưng trụ lại đến bây giờ chỉ còn An và Hiền.

- Làm gì mà ưu tư như bà cụ non thế.

Tiếng bác họa sĩ lúc nào cũng khiến người khác giật mình.

An lúng túng, không biết trả lời thế nào.

- Đi đi! Bác xin phép cô chủ nhiệm rồi. Lúc này chúng cháu cần phải gần gũi nhau hơn. Kiến thức là cần thiết nhưng cũng phải để chỗ cho tình cảm gắn kết.

An được động viên, phấn khởi kéo Hiền chạy ào xuống bến.

- An ơi! Chậm thôi!

Tàu khách cao tốc đang đến gần, tiếng máy ùng ục như mũi khoan sục xuống lòng sông khiến An không nghe thấy cô Hạnh gọi. “Mũi khoan” lao vọt qua trước mủng của An, những dải sóng sủi bọt kéo thành vệt dài như đuôi sao chổi. An xoay mủng cắt ngang sóng, ghìm chặt mái chèo. Sóng ào tới, đẩy mủng của An nhồi lên cao như chiếc lá phơ phất rồi tức khắc kéo tụt xuống như đá tảng rơi xuống hoẳm. Những vẩy mây hồng trên nền trời như rơi lả tả trước mắt An.

Cô Hạnh hổn hển mắng:

- Mày liều thế! Nhìn mày chèo cắt sóng không khác gì mẹ mày ngày xưa. An buông tay chèo, rưng rưng nước mắt. Ngày An ra đời cũng là ngày mất của mẹ. - Lại khóc. - Cô Lan cằn nhằn, rồi cô quay sang nói với bác họa sĩ: - Cứ nói động đến mẹ nó là nó khóc. - Khóc đi cháu. Nước mắt sẽ làm vơi nỗi lòng. Chính những bài học trong sách khiến cho đứa trẻ có tâm hồn. Bác nói thế có phải không hai đứa. – Bác họa sĩ nói những câu nhẹ nhàng, tình cảm mà cũng át cả tiếng gió.

Bác ấy nói đúng. Đầu năm học, cô giáo cho làm bài tập làm văn, hãy tả về mẹ của em. Mình đã biết mẹ thế nào đâu mà tả, chẳng lẽ lại bịa? An cắn bút, nhìn bầu trời qua ô cửa sổ, lòng trĩu buồn. Cô giáo giục: “Sao không làm bài, An?” An giật mình, vội vàng chép vào giấy “Con yêu mẹ bằng trời / Rộng lắm không bao giờ hết”. Hôm trả bài, cô giáo hiểu hoàn cảnh gia đình An, nhắc nhở “Đây là bài thơ của nhà thơ Xuân Quỳnh, có trong chương trình lớp 2, không phải tình cảm của em”. Cô giáo mới nói vậy, An đã gục mặt xuống khóc. An muốn nói, đây là tình cảm thật của em, lần nào đi thuyền trên sông em cũng ngước nhìn bầu trời tìm mẹ trên đó.

Bác họa sĩ kéo sụp mũ để giấu xúc động, cắm cúi vẽ.

Cô Hạnh lặng lẽ nhìn bầu trời. Cô vẫn hay kể, mẹ An đẹp và không ai dạy mà mẹ chèo thuyền giỏi lắm. Khi mẹ đi thuyền, không ai cho rằng mẹ là người mất trí. Có lẽ mẹ đã nhìn thấy những vẩy mây ánh hồng như hôm nay nên mới có An trên đời.

- Hôm nay mấy cô cháu rảnh nhỉ. Khát cháy cổ rồi đây, không có nước giải khát à?

Những người công nhân bụi xi măng bám vào người như thể bức tượng đồng hun dở, dồn ra mép sà lan nhao nhao hỏi. Cô Hạnh nói vui:

- Có ông họa sĩ nuôi rồi, không cần bán hàng nữa.

- Một bức tranh vài triệu đô, mấy cô cháu sống cả đời.- Đám công nhân đùa lại.

Có tiếng nói với An:

- Hôm nay cái An trông như thiếu nữ trong tranh, xinh tươi thế.

Cô Hạnh nói chẳng biết đùa hay thật:

- Hôm nay em đưa nó đi tìm bố, là bác nào em biết rồi đấy.

Bác họa sĩ giật mình, buông bút hỏi cô Hạnh:

- Cô biết bố cái An à?

- Có lẽ bố nó không biết có nó trên đời. Nhưng em cũng đoán ra rồi. Người ấy phải có trách nhiệm với ông cháu cái An.

Bác họa sĩ tỏ thái độ không hài lòng:

- Cô bỏ cái thói anh chị sông nước ấy đi.

Cô Hạnh vùng vằng:

- Thì, về nơi tái định cư ông cháu cái An không biết phải làm gì kiếm sống, em không muốn cái An bỏ học sớm.

Cô Hạnh nói tiếp mạch cảm xúc:

- Như em chữ nghĩa chả đâu vào đâu, khổ lắm, sau này biết làm cái gì đây. Này hai đứa, đừng tưởng làm như những bác công nhân bốc xếp kia mà không cần có kiến thức nhé. Nhìn mấy đứa trẻ trong xóm mình kia kìa, tuổi ấy mà lúc nào cũng mướt mồ hôi, da tái nhớt như da nhái bén, liệu rồi mai ngày biết làm gì cho đủ ăn.

Hai đứa trẻ lúng túng nhìn những đứa trẻ leo lên cầu cảng. Không có ông, có cô Hạnh và bác họa sĩ chắc An và Hiền cũng như chúng nó.

Bố An là ai? Ông vẫn kể, ngày xưa nhà mình ở bên kia sông, ông cũng là công nhân ở bến cảng này. Khi ông về hưu, xảy ra chuyện không hay với con cái, ông đưa mẹ bị bệnh viêm màng não sang bên này sông cắm miếng đất dựng nhà. Ở xóm bờ sông này mỗi nhà là một hoàn cảnh éo le, cùng vật vã mưu sinh trên dòng sông Cấm. Mẹ vẫn chèo mủng sang bên này sông.

Một bác công nhân kéo chiếc mủng neo vào cột bích sà lan rồi nói với cô Hạnh:

- Em thấy anh giống cái An không. Bố nó đây chứ phải tìm đâu nữa.

Cô Hạnh nguýt:

- Bố nó đẹp giai chứ có phải khúc củi mục như anh đâu mà đòi nhận.

Bác công nhân nghiêm giọng nói với mọi người:

- Nói đùa vậy thôi. Ông cái An ngày xưa làm ở tổ này, chính vì thế chúng tôi thống nhất với nhau rồi, không để cái An phải bỏ học.

Bác họa sĩ giơ bức ký họa vừa vẽ cho mọi người xem rồi đưa lại cho An, hào hứng:

- Tặng cháu! Để về nhà mới treo.

An xem bức tranh, thốt lên:

- Các bác nhìn cháu đang bay trên đầu sóng này.

Bác họa sĩ lên sà lan, đứng giữa đám công nhân, bác nói:

- Các bác thấy cái An nhận xét bức tranh vừa chính xác vừa tinh tế không. Những bài học ở trường, ở sách giáo khoa đã giúp cho cái mầm gien của tôi trong cái An trỗi dậy đấy. Tôi chính là bố nó.

Cô Hạnh nhảy từ mủng lên sà lan, gắt gỏng:

- Này, đừng nhận vơ! Anh đã gặp mẹ cái An lần nào…

Bác họa sĩ vẫn hào hứng, cắt lời cô Hạnh:

- Tôi chưa vợ, em chưa chồng, tôi sẽ là bố nó còn em sẽ là mẹ nó, tôi tặng tranh còn em tặng khung thế là hài hòa. Các bác có thấy vậy là đúng không!

Hai đứa trẻ ngỡ ngàng, một câu chuyện cổ tích đang mở ra trước mắt mình trong buổi sáng đẹp trời./.

Truyện ngắn của Nguyễn Quốc Hùng
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Những đứa trẻ trên sông