Những người vượt biển ra Bắc

25/05/2017 11:46

Chuyện của anh Sáu Giáo

…Chuyến vượt biển đầu tiên đưa vũ khí vào khu 5 không thành. Đồng chí Lưu Đức ra Hà Nội báo cáo với Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về chuyến đi đó. Quân ủy Trung ương nhận định: Việc dùng thuyền gỗ, chạy bằng buồm chở vũ khí vào chiến trường có rất nhiều khó khăn và không an toàn. Vì vậy, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho tiểu đoàn 603 tạm ngừng hoạt động để tìm một phương thức vận chuyển mới. Trong lúc chờ đợi, số anh em tiểu đoàn 603 được điều sang tiểu đoàn 301, dồn sức mở con đường xuyên Trường Sơn…

… Ngày 20-12-1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được thành lập. Tháng 1-1961, Bộ Chính trị chỉ thị: “…Tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng ta, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên phạm vi ngày càng rộng lớn…Tạo điều kiện và mọi thời cơ thuận lợi để đánh đổ chính quyền Mỹ Diệm…”

Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, nhiệm vụ vận tải chiến lược phải theo kịp tình hình phát triển của chiến trường; nếu có điều kiện phải đi trước một bước. Tuyến đường Trường Sơn chi viện cho miền Nam còn vài ba năm nữa mới vươn tới miền Đông Nam Bộ, còn đồng bằng Nam Bộ thì thật khó mà vươn tới. Song vũ khí cho chiến trường Nam Bộ đang là đòi hỏi cấp bách có tính sống còn đối với phong trào cách mạng ở đây. Tiếp tế cho Nam Bộ, vào thời điểm này, không còn con đường nào khác hơn là con đường biển. Con đường chi viện trên bộ hiện tại mới tới khu 5, song do sử dụng phương thức vận tải thô sơ nên còn hết sức gian nan, hiệu quả không lớn. Mỗi chiến sĩ, giỏi cũng chỉ gùi được 20 kg hàng. Muốn chở 10 tấn hàng, cần có 500 người, ấy là chưa kể ốm đau, địch đánh phá và người phục vụ cho 500 người gùi hàng trên, và tổn thất do nhiều nguyên nhân khác. Vậy để chuyển 100 tấn hàng, 1000 tấn hàng và hàng trăm nghìn tấn hàng cho chiến trường cần bao nhiêu người và phải làm trong bao năm? Nếu thông con đường trên biển, 100 tấn vũ khí, chỉ cần một con tàu và 15 thủy thủ là trong một tuần, hàng có thể tới cực nam Nam Bộ. Đó là bài tính để tạo quyết tâm.

Trong khi chờ đợi một phương thức vận chuyển vũ khí từ miền Bắc đi bằng đường biển vào miền Nam, Trung ương Đảng chỉ thị cho các tỉnh Nam Bộ chuẩn bị bến bãi và cho thuyền ra miền Bắc vừa thăm dò, mở đường nghiên cứu phương tiện vận chuyển trên biển và báo cáo tình hình, nếu có điều kiện thì chở vũ khí về.

Chỉ thị của Trung ương Đảng phù hợp với lòng mong mỏi của các địa phương, do vậy trong một thời gian ngắn, các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Bà Rịa đã gấp rút chuẩn bị, tổ chức các đội tàu, mua sắm thuyền lưới và chọn người để lên đường, vượt biển ra Bắc…”( Lịch sử lữ đoàn 125 - tức Đoàn tàu không số - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân – Năm 2001)

Nhận được chỉ thị của Trung ương, Tỉnh ủy Bến Tre, quê hương phong trào đồng khởi, giao anh Nguyễn Văn Khước ( Năm Chung hay còn gọi là Mười Khước) Bí thư Tỉnh ủy và chị Nguyễn Thị Định, người từng vượt biển ra Bắc xin vũ khí từ năm 1946, lo tổ chức chuyến đi. Trong thời gian ngắn, Bến Tre tổ chức được hai đội tàu.

Đội tàu thứ nhất do anh Sáu Giáo (tức Đặng Bá Tiên) làm đội trưởng; anh Nguyễn Văn Kiệm (Năm Tiến), Bí thư chi bộ. Các thành viên có: Huỳnh Văn Mai (tức Nguyễn Văn Giới, tức Mai Đen), Đặng Văn Bê (Hai Thọ), Lê Văn Nhung (Hai Hùng), và Nguyễn Văn Đức (Sáu Đức).

Đội tàu thứ hai do anh Lê Công Cẩn (Năm Công) phụ trách, các thủy thủ gồm: Nguyễn Văn Hớn (Năm Thanh), Nguyễn Văn Hải (Huỳnh Phước Hải, Tức Sáu Hải), Văn Công Cưỡng, Bùi Văn Ấn (Năm Thăng), Nguyễn Văn Luông (Hai Sơn), Huỳnh Văn Tiến (tức Huỳnh Văn Mười, tức Mười Tiến).

Có lẽ nhờ cái duyên với con đường vận chuyển chở vũ khí trên biển, nên cách đây đã chục năm, tôi may mắn gặp được anh Đặng Bá Tiên (tức Sáu Giáo), người phụ trách đội thuyền thứ nhất của Bến Tre đã vượt biển ra Bắc năm 1961. Anh Sáu Giáo nhỏ người, sức khỏe không mấy tốt, nhưng trí nhớ chưa hề cùn mòn. Tôi và anh ngồi nói chuyện trong ngôi nhà số 272 ở đường Minh Phụng, quận 5, nơi gia đình anh cư ngụ.

Đặng Bá Tiên sinh ra trong một gia đình công giáo, bố làm trùm họ, nhưng anh lại là đảng viên Cộng sản. Năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, anh tham gia vận tải quân lương lên Điện Biên Phủ. Thời đó Thanh Hóa nổi tiếng bởi những chiếc xe đạp thồ. Sau này, có người nói rằng chúng ta thắng ở lòng chảo Tây Bắc, ấy là nhờ những chiếc xe đạp. Có lý!

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, giáo dân miền Bắc, trong đó có giáo dân vùng Nga Sơn (Thanh Hóa) quê anh, bị địch lừa gạt, cưỡng ép di cư vào Nam. Họ dắt díu, bồng bế nhau, hớt hải xuống tàu.

- Nhìn họ nháo nhác như gà con tìm mẹ, vừa tức, vừa thương – Anh Sáu kể - Biết họ ăn phải bùa ngải, bị lừa, mà bất lực. Hồi đó tôi có tên trong danh sách đi du học nước ngoài. Nhưng cuối cùng, lý lịch xuất thân trong gia đình công giáo của tôi có lẽ đã gợi mở, lóe ra cái gì đó để người làm công tác tổ chức dày kinh nghiệm bắt đầu có quyết định khác. Một buổi chiều, anh Ngô Thuyền, thời ấy là Bí thư Tỉnh ủy, cho gọi tôi lên. Đến phòng của anh, tôi nhận ra vài ba đồng chí cán bộ cao cấp của Bộ Công an. Sau những lời chào hỏi, các anh mật giao nhiệm vụ cho tôi: di cư. Trà trộn vào số giáo dân di cư đi Nam để tính kế lâu dài. Tôi bất ngờ, ngớ ra. Anh Ngô Thuyền nhìn tôi, nói: “Chú đừng sợ đơn độc, tổ chức luôn luôn bên cạnh”. Tôi đâu sợ điều ấy, tôi biết tổ chức luôn luôn sát bên mình, nhưng vẫn có cái gì đó ngỡ ngàng, bối rối. Tôi chưa lường đến tình huống này… Vậy là, đang là một cán bộ chống cưỡng ép di cư, đang lớn tiếng hô hào bà con giáo dân đừng tin những lời dụ dỗ xằng bậy mà bỏ quê hương bản quán, lại là kẻ trở mặt, chui nhủi lặng lẽ ra đi… Lúc đó tôi đã có vợ, cô ấy cũng là đảng viên-anh Sáu cười-Đảng viên nhưng lúc cưới, chúng tôi vẫn làm lễ ở nhà thờ đó nghe…Tổ chức gợi ý, nếu cả hai vợ chồng cùng di cư là thuận nhất. Tôi cũng nghĩ vậy, ngặt nỗi, vào thời gian ấy, vợ tôi đang mang bầu, nên đành lủi thủi một mình.

Trích ký “Huyền thoại tàu không số” của nhà văn Đình Kính, Nhà xuất bản Văn học, ấn hành năm 2016

...Anh Đức chờ tôi nơi cửa. Chúng tôi đi lên phòng khách trên lầu hai đó. Ở tuổi gần bẩy mươi, anh Đức vẫn khoẻ. Đỏ đắn. Rắn chắc. Phong thái của một một thuỷ thủ từng lăn lộn trên sông nước.

- Trên yêu cầu, còn có thể đi biển ngon ! - Anh cười, nói vui.

Nhắc tới những kỷ niệm thời làm lính, anh ham lắm. Không riêng anh Đức, bằng các cuộc gặp, tôi nhận ra rằng những ai từng qua cuộc chiến, trong cái nóng bỏng, nhộn nhạo xô chen cầu danh cầu lợi hiện tại, những kỷ niệm quá khứ là luồng gió mát để phần nào được dịu lại, phần nào thanh thản. Tình người, nghĩa đồng đội, đức hy sinh, lòng vị tha... của một thuở là chiếc gậy nhằm bíu vào mà chống chọi để đi nốt quãng đời còn lại...

- Chú muốn nghe chuyện vượt biển ra Bắc năm 1961 của thuyền Bến Tre phải không ?- Anh Đức rót nước ra chén, rồi kể -

- ... “Tôi vẫn nhớ. Những việc như vậy quên sao được... Anh Sáu Giáo nói với chú rằng ngày 1-6 thuyền xuất phát hả ? Đúng đó! Chính xác hơn là buổi chiều. Năm giờ chiều tại một bến vắng thuộc Cồn Tra, Thạnh Phong, Thạnh Phú. Chú hỏi có lo không ? Trời ơi, ai nói không lo là xạo. Thuyền nhỏ, máy không đủ sức đẩy, đường xa, sóng gió bất thường, lúc nào cũng có thể bị địch gô vô khám, sao không lo! Mạng mình là chuyện nhỏ, nhiệm vụ trọng đại Đảng giao mới là mối lo lớn. Phụ giúp chuyến đi chỉ một bản đồ thu nhỏ, một la bàn cũ. Hết! Gạo không nhiều, chỉ 50 ký, cá khô đủ ăn dè, nước uống một phi dầu dự trữ 180 lít... Đồ dùng, lưới cụ chất lên, vừa đầy thuyền. Còn chừng ba mét vuông phía sau, sáu anh em thay nhau ngả lưng... Ra khỏi cửa sông, máy ỳ ra, không thắng nổi sức nước, đành căng buồm lên phụ trợ. Đêm đó mưa lớn. Cơn mưa đột ngột kéo tới khiến chúng tôi không kịp xoay trở. Nước ngập lòng thuyền. Anh Nhung trùm tấm ni lon mỏng ngồi phía cuối cầm lái, còn năm anh em thay nhau tát. Nếu để máy bị ngập, coi như chuyến đi thất bại, nên ai cũng ráng hết sức. Cơn mưa hôm đó mới dai chớ! Lại gió nữa. Để giữ thuyền không bị lật, đành hạ buồm xuống... Chừng nửa đêm, gió đỡ hơn, mưa tạnh dần. Đói, rét, buồn ngủ. Nhưng không thể nghỉ. Người tát nước, người sắp xếp mọi thứ đã ướt mèm...

Gần sáng, trời tạnh hẳn, chúng tôi nhìn lên và nhận ra mình đã tới Bà Rịa. Buồm lại kéo lên. Gió đẩy, máy đẩy, nhưng mỗi giờ cũng chỉ đi được 4, 5 hải lý... Củi, gạo, cá khô, quần áo mang ra phơi. Mười một giờ trưa mới nhóm được bếp. Đói meo... Đêm đó, lẫn vào thuyền câu mực của dân, chạy miết. Cứ hướng Bắc mà đi. Gần bờ, quan sát núi; xa bờ lái thuyền theo sao Bắc Đẩu. Ngày hôm sau, gió Đông Nam thổi mạnh. Thuyền chồm qua, chồm tới. Đã có người say sóng. Chiều, cho thuyền chạy sát bờ để xác định vị trí. Biết đã đến Cà Ná, mừng hết nói... Lại đi. Thay nhau ngủ. Thay nhau lái... Khó khăn tưởng đến vậy là hết cỡ, ai dè hôm sau, phát hiện ra phi nước ngọt gỉ sắt thôi vàng khè, lại thêm nước mặn tạt vào. Cực hết biết. Cũng đành nấu cơm và uống thứ nước lờ lợ đó thôi... Nhưng không ổn. Triệu chứng đau bụng đe dọa chuyến đi. Ăn vào, lại thải ra hết. Sức khoẻ mọi người giảm sút. Anh Sáu Giáo hội ý chi bộ. Tôi đề xuất nên tạt vô bờ kiếm nước ngọt và thực phẩm. Mình có giấy làm ăn hợp pháp, không ngại. Anh Sáu và anh Năm Kiệm nhất trí. Đến địa phận Sông Cầu (thuộc Phú Yên - ĐK), chúng tôi cho thuyền ghé sát thuyền đánh cá của dân, lân la hỏi chuyện. Rõ thuyền đi biển bị lạc, bà con thông cảm lắm. Có người còn sốt sắng rủ về nhà lấy nước và mua hộ thực phẩm. Ở vùng nào, dân mình cũng thiệt tốt, sống có nghĩa, có nhân... Nghỉ ở Phú Yên gần trọn một ngày, đêm đó chúng tôi kéo buồm, dong thẳng ra khơi... Ngày thứ bảy (tức mồng 8-6) thuyền qua đảo Lý Sơn. Chạy khoảng 30 giờ nữa sẽ đến vĩ tuyến 17. Đây là chặng đường cuối, cũng là chặng đường khó khăn nhất. Chúng tôi cho thuyền chạy thiệt xa bờ... Hôm đó tất thảy đều hồi hộp, không ai ngủ...

Ngày thứ 9, chúng tôi rõ là mình đã vượt qua cửa Tùng. Thấy thuyền đánh cá ra khơi treo cờ đỏ sao vàng, mừng ơi là mừng!...Miền Bắc đây rồi! Niềm ao ước bao ngày đây rồi! Chúng tôi thấp thỏm không yên... Tự tin, cứ hướng vô dãy núi xa mờ trước mặt, cho thuyền giáp tới. Hồ hởi, phấn khởi hết mức. Vui, quên cả đói, quên cả mệt... 5 giờ sáng ngày 11-6, gặp hai thuyền đánh cá. Anh Sáu Giáo là người miền Bắc, ngoắc vô hỏi thăm. Bà con cho biết đây là mũi Ròn, đồng ý đưa chúng tôi vô bờ.

Hơn tiếng sau, sáu anh em “được” Công an biên phòng Hà Tĩnh bắt. Bị bắt mà mừng quá trời. Khi đi, anh Mười Khước có dặn, không được hở công việc cho bất cứ ai, trừ các cán bộ cao cấp của Đảng, nên chúng tôi “ngoan cố” khai rằng thuyền đánh cá, bị lạc. Hỏi mãi, cũng chỉ câu ấy. Cuối cùng anh Sáu đề nghị được gặp giám đốc Công an tỉnh. Trời ơi, đang bị nghi là biệt kích lại đòi gặp chỉ huy cấp cao. Ấy mà gặp thiệt... Như là chuyện không phải thế. Hôm sau nữa thì có xe con của Trung ương vô, rước sáu anh em ra Hà Nội. Đi suốt đêm luôn. Chúng tôi về phố Quan Thánh, ở nhà số 103... Chà, những chuyện như vầy làm sao quên chớ!... Rồi chuyện được gặp anh Ba Duẩn, anh Hai Hùng (tức đồng chí Phạm Hùng - ĐK) và các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng ngay ngày hôm sau, khi vừa chân ướt, chân ráo đến Thủ đô, sao lại có thể không nhớ... Cuộc đời con người có những thời điểm để lại dấu ấn không phai mờ, như thể chiếc đinh thuyền đóng vào gỗ, phải không? Chuyện vượt biển ra Bắc và được gặp các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng là khúc như vậy của cuộc đời tôi”...

Chuyện anh Đức kể, vui quá! Tôi mải nghe quên cả thời gian. Khi anh ngừng, đã quá trưa. Anh có ý rủ ở lại nhậu lai rai, tôi từ chối. Từ chối, phần vì không quen nhậu, phần vì phải kiệm thời gian. Trước lúc chia tay, tôi hỏi :

- Sau khi về đoàn “tàu không số”, bao nhiêu lần anh tham gia chở vũ khí vào Nam ?

- Cũng trên dưới 15, 16 chuyến lận. Nhiều chuyến đi suôn sẻ, nhưng không ít chuyến gặp địch, phải huỷ tàu, vượt Trường Sơn trở về... Gian nan, vất vả, hy sinh. Lắm lúc ngẫm lại, chẳng là kẻ huyênh hoang cũng có thể nói rằng, quả có một giai đoạn anh em chúng tôi đã làm được điều ngoài cái khả năng bình thường của con người... Không chỉ là sự gian khổ, thấp thỏm trong mỗi chuyến đi, còn những mất mát khác phải chịu đựng... Phía sau mỗi người là bao níu kéo...

Tôi hiểu ý anh...Và những mất mát ấy mới thực nặng. Trong một lần chở vũ khí vào Trà Vinh, Nguyễn Văn Đức nhận được tin sét đánh: Trong vụ thảm sát của địch vào Thạnh Phú hồi đầu năm 1964, 4 người gia đình anh gồm mẹ, chị và hai đứa cháu hy sinh... Trước đó, ba anh, người bí thư Huyện ủy Thạnh Phú bị địch bắt và tra tấn tới chết...Vượt qua những nỗi đau ấy, thật chẳng dễ dàng...

Sau đó, lần khác vào TP Hồ Chí Minh, tôi có điện cho anh Đức. Hay tin, anh chạy ô tô riêng đến nhà khách Hải quân tại đường Tôn Đức Thắng tìm. Nghe nói anh đang cùng mấy cháu mở công ty, làm kinh tế. Anh rủ về nhà, tôi cười khéo: “còn nhiều người cần gặp quá mà, anh Sáu!”. “Vậy hả, chú vội, không ép, anh có cái này gửi chú xem qua”. Anh dúi vào tay tôi mấy bài viết, ngồi một lúc nữa rồi ra xe. Hẹn lúc nào rảnh sẽ qua.

Trích ký “Huyền thoại tàu không số” của nhà văn Đình Kính Nhà xuất bản Văn học, năm 2016

Đêm đó, về Nhà khách Hải quân, tôi mở tài liệu anh Đức gửi và ghi tóm tắt thêm mấy điều về anh. Năm 1957 đến 1960, làm liên lạc xã, rồi bí thư Đoàn xã Thạnh Phong, huyện Thanh Phú, Bến Tre. Năm 1961 tham gia vượt biển ra Bắc. Tháng 10 năm 1961, biên chế về đoàn 759 (tức đoàn tàu không số sau này). Tháng 11 năm 1962, thủy thủ trên tàu Phương Đông 4, bí mật chở vũ khí vào Cà Mau. Tháng 3 năm 1963, thủy thủ trưởng tàu 69, chở vũ khí về quê hương Bến Tre. Được thưởng huân chương Chiến công hạng Ba. Tháng 5 năm 1963, đi tàu 100 vào Trà Vinh. Năm 1964, biên chế về tàu 55 rồi tàu 43. Năm đó đi 6 chuyến, ba chuyến vào Cà Mau, hai chuyến vào Bến Tre, một chuyến vào Trà Vinh. Năm 1965 đi hai chuyến vào Cà Mau. Cuối năm đi học Trường Sĩ quan hải quân. Năm 1968, là thuyền phó tàu 43, chở vũ khí vào Quảng Ngãi, gặp địch phải hủy tàu, rồi lội bộ, vượt Trường Sơn về lại miền Bắc.

Chuyện tàu 43 hai lần vào Quảng Ngãi và cả hai lần phải hủy là câu chuyện dài, lý thú, liên quan đến chuyện kể của nhiều người.

Anh Mười Tiến và chiếc tàu thứ hai của Bến Tre đi ra miền Bắc

Anh Nguyễn Xuân Thơm, phụ trách hội cựu chiến binh đoàn “không số” khu vực thành phố Hồ Chí Minh cho hay, trong số anh em đi đội tàu số hai của Bến Tre vượt biển ra Bắc thời kỳ 1961 có anh Huỳnh Văn Tiến, (Mười Tiến) hiện sống ở Vũng Tàu. Mừng quá, chúng tôi vội ra đó ngay. Anh Mười ở trong con hẻm sát lộ, nên dễ tìm.

Nhà rộng, nhưng tình cảm của vợ chồng anh Tiến còn rộng hơn. Anh chị vui vẻ sởi lởi đón chúng tôi như những người thân lâu ngày gặp lại. Chị Quỳnh, vợ anh sốt sắng pha nước. Người phụ nữ này đúng là con dâu “tàu không số”. Chị am tường bạn bè của chồng trong đoàn không kém anh. Ai đi chuyến nào, ngày nào, chị nhớ hết. Nhiều chuyện anh Mười đang gõ trán lục lại, chị Quỳnh liền nhắc chồng để anh nhớ ra. Chuyện trò với anh chị thật thoải mái, thật vui!

Anh Huỳnh Văn Tiến sinh năm 1937 trong một gia đình khá đông con tại Thạnh Phong, Thạnh Phú (Bến Tre). Năm 14 tuổi làm liên lạc công an huyện. Sau đình chiến (1954), anh không tập kết, mà ở lại tham gia hoạt động phong trào trong xã. Sau đồng khởi (1960), anh nhập ngũ.

- Rồi đầu năm 1961, tôi có lệnh về đơn vị khác – Anh Mười Tiến kể - Ông Mười Khước, Bí thư Tỉnh ủy bảo, đây là đơn vị “ tự túc”. Hồi đó đâu có rành tự túc là sao! Biểu làm gì thì làm thôi. Sau mới hiểu, chúng tôi chuẩn bị vượt biển ra Bắc xin vũ khí. Trưa 18 tháng 8 năm 1961, chú Mười xuống Cồn Tra, Thạnh Phong, Thạnh Phú, giết con cầy liên hoan tiễn anh em chúng tôi đi. Đội tàu do anh Lê Công Cẩn tức Năm Công phụ trách, và sáu anh em, gồm: Nguyễn Văn Hớn tức Năm Thanh, Nguyễn Văn Hải tức Sáu Hải, Văn Công Cưỡng, Bùi Văn Ấn tức Năm Thăng, Nguyễn Văn Luông tức Hai Sơn, và tôi, Huỳnh Văn Tiến. Tôi thứ mười nên vẫn gọi là Mười Tiến. Anh em chúng tôi đi trên con thuyền cánh dơi năm tấn, máy Yamaha 18 sức ngựa. Khoảng ba ngày sau, thuyền đi ngang vùng có nhiều núi nhô ra sát biển, tôi nhìn về hướng Tây, thấy trên đó có hòn đá mang hình người thiếu nữ bế con, vậy là biết ngay đây là vùng biển Phú Yên. Tôi rành vậy bởi hồi nhỏ đã thuộc bài ca nói về hòn Đá Bia này nơi đèo Cả. Đường hải lộ từ Nam ra Bắc/ Khỏi Ba Ngòi thẳng đến Quy Nhơn/ Chập chùng gò nỗng xa xa/ Chợt thấy một núi bên đường cao cao/ Ngay giữa đỉnh hình nhân lộ vẻ/ Tay ẵm bồng một trẻ hài nhi/ đó là hòn núi vọng phu/ Là người thiếu nữ con thơ trông chồng… Chúng tôi cho tàu chạy miết. Hôm sau đến vùng biển lạ, anh Năm Công đưa thuyền đi sát một thuyền dân mua cá và hỏi đây thuộc đâu? Người đánh cá trả lời đây là vùng biển Đà Nẵng. Mừng rồi. Lại giương buồm, nổ máy nhằm hướng Bắc chạy tới. Qua cửa Tùng, nhưng không hay rằng mình đã ra đến miền Bắc. Đêm đến, chúng tôi cho thuyền vô sát chân núi, neo lại xem chừng. Gần sáng, tôi và anh Năm Công lò dò lên bờ . Thấy hơn chục người từ trong xóm đi ra, chột dạ nên dừng lại. Một người hỏi: “ Mi ở mô đến đó?”. Tôi đáp rằng đi biển bị lạc. Lại hỏi: “ Có giấy tờ chi không?” . Tôi nói, có giấy của chính quyền Ngô tổng thống cấp. Mấy người dân nhìn chúng tôi, lại nhìn nhau. Vậy là cả tàu bị bắt. Sau đó tôi thấy họ dùng tiền có ảnh Bác Hồ, biết mình đã ra đến miền Bắc, mừng lắm. Anh Năm Công đề nghị được gặp cán bộ cao nhất. Mấy hôm sau có xe từ Hà Nội vào rước đi. Mãi lúc ấy mới rành nơi mình bị bắt là xã Kỳ Lôi, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Đó là ngày 28 - 8 - 1961. Mười ngày lênh đênh trên biển, tàu chúng tôi đã đến được nơi cần đến.

- Rồi các anh được gặp Bác ? – Tôi hỏi.

- Đó là kỷ niệm khó quên nhất trong đời - Anh nhìn chúng tôi, niềm vui đọng trong ánh mắt - Sau khi các đội tàu của Bến Tre, Trà Vinh, Bà Rịa và Bạc Liêu ra được miền Bắc, một hôm, Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh, Chủ nhiệm Ban Thống nhất Trung ương đến thăm, và thông báo rằng Bác Hồ sẽ gặp. Mừng qúa, thấp thỏm mấy ngày liền. Ba hôm sau, xe chở chúng tôi đến Phủ chủ tịch. Hồi hộp quá! Chờ một lát thì Bác đến, cùng đi với Bác có đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Phạm Văn Đồng, đồng chí Phạm Hùng, đồng chí Ung Văn Khiêm và một số đồng chí khác.. . Bác hỏi thăm sức khỏe, hỏi về phong trào đấu tranh trong đó. Và cuối cùng Bác muốn biết nguyện vọng của mọi người. Anh Bông Văn Dĩa ở Bạc Liêu, anh Hai Tranh ở Trà Vinh đều thưa rằng mọi người chỉ có một nguyện vọng, xin Trung ương cho thật nhiều vũ khí để về đánh giặc. Bác nói rằng Bác và Trung ương sẽ đáp ứng nguyện vọng đó… Đêm ấy, nghĩ lại chuyện được gặp Bác, chúng tôi thao thức không ngủ được…

- Trong những lần đưa tàu chở vũ khí vào miền Nam sau này, chuyến đi nào đáng nhớ nhất trong đời làm lính đoàn tàu không số, anh?

- Nhiều… Mỗi chuyến đi là một kỷ niệm. Mà kỷ niệm nào cũng ấn tượng. Lần đầu tôi tham gia chở vũ khí vào Nam là năm 1962. Sau khi tàu Phương Đông 1 của anh Dĩa, anh Một vào Vàm Lũng (Cà Mau) thành công, đoàn tổ chức đi hai chuyến nữa, mang tên Phương Đông 2 và Phương Đông 3. Tàu chúng tôi là tàu Phương Đông 4. Đây là chiếc tàu gỗ cuối cùng tham gia đưa vũ khí vào trong đó. Sau này chúng tôi đi toàn tàu sắt. Tàu có 12 người, do anh Lê Văn Thêm làm thuyền trưởng, anh Trương Xuân Quang làm thuyền phó, anh Đặng Văn Thanh làm bí thư chi bộ. Anh Thanh sau này được phong Anh hùng đấy. Bộ phận máy có anh Nguyễn Thanh Thưởng và anh Thôi Văn Nam; anh Nghiêm làm báo vụ; thủy thủ có Nguyễn Văn Thanh, Bùi Văn Thắng, tôi, Nguyễn Văn Đức, anh Dương Văn Lộc và anh Trần Nhợ. Anh Lộc và anh Nhợ hồi ấy nhiều tuổi rồi, nên chúng tôi vẫn gọi vui là già Lộc, già Nhợ. Hai anh là người thiệt tốt. Được giao làm hậu cần, chu đáo hết sức, chăm lo cho mọi người từng ly từng tý. Sau này nghe tin hai anh hy sinh, lại không tìm thấy xác trong vụ hủy tàu 41 ở Quảng Ngãi, chúng tôi thương tiếc vô cùng. Tại sao những người đức độ, chỉ biết vì mọi người như anh Lộc, anh Nhợ, lại chết? Vô lý quá!

(Tiếp theo)

Anh Mười lặng đi một lúc. Chị Quỳnh áy náy nhìn chúng tôi. Chị nói:

- Nhà tôi dễ xúc động. Hễ nhắc đến các anh em hy sinh là khóc. Mà phải thôi, một thời chia nhau bát nước, say sóng lả người, chung cái sống, cái chết, nay người còn, người mất, thật tội.

Chị Quỳnh người Hải Phòng, là em vợ anh Phan Bảng, đồng đội trên “tàu không số” với anh Mười. Thấy anh có hoàn cảnh éo le, mới vun vào để hai người nên vợ nên chồng. Họ cưới nhau năm 1971. Sau chiến tranh, anh vào Cát Lái, rồi xuống Vũng Tàu công tác. Chị theo, để được gần chồng… Con trai anh chị làm ở thành phố Hồ Chí Minh, con gái lấy chồng.

- Về già, lại chỉ vợ chồng sống với nhau - Chị Quỳnh nói - Thỉnh thoảng bạn bè và mấy anh trong đoàn “tàu không số” qua lại chơi, ôn chuyện cũ.

Tôi hỏi thêm về chuyến đi của tàu Phương Đông 4. Anh Mười Tiến kể:

- Tàu chúng tôi xuất phát ngày 14-12-1962, chở hơn 30 tấn vũ khí vào Cà Mau. Hôm đó gió mùa Đông Bắc. Gió cấp 6. Biển động. Tàu chọn đi trong thời tiết ấy là để tránh sự tuần tra của địch. Ra đến vùng biển quốc tế, nhiều người say sóng. Tôi cũng say. Ói ra mật xanh mật vàng… Sau bốn ngày vượt sóng, chúng tôi bắt gặp hòn núi, ngỡ là Côn Đảo, nên vội chuyển hướng vào bờ. Tới gần mới nhận ra đấy là Cà Ná. Vội cho tàu quay ra vùng biển quốc tế, xuôi xuống phía Nam. Mấy ngày sau thì thấy Côn Đảo, vậy là cho tàu chuyển vào bờ. Đến gần vàm, đánh tín hiệu gọi bến, nhưng không thấy trả lời. Lo lắng vô cùng. Tôi đề nghị với chỉ huy tàu được bơi vào bờ nắm tình hình. Anh Thêm, anh Thanh đồng ý, còn cử thêm anh Quang cùng đi. Sau hai giờ lần mò bám gốc đước, chúng tôi bắt được liên lạc với du kích. Mừng khôn xiết… Ở lại Vàm Lũng Cà Mau một thời gian, chúng tôi trở về miền Bắc để chuẩn bị những chuyến đi khác… Năm 1963 tôi được đi trên đội tàu số 5, chở vũ khí về cho Bến Tre. Đây là chiếc tàu sắt đầu tiên đưa vũ khí về quê hương, nên hồi hộp lắm! Tàu do anh Trần Phong làm thuyền trưởng, anh Đỗ Sạn làm chính trị viên, anh Lê Quốc Thân và anh Lê Văn Thêm làm thuyền phó. Tôi được tham gia trong tư cách thủy thủ - Anh Mười chợt quay qua anh Nguyễn Xuân Thơm, hỏi: Lúc đó Thơm làm hàng hải, đúng không?

- Đúng - Anh Thơm đáp- Tôi làm hàng hải. Đang kỳ gió Tây Nam, sóng đánh lớn nên tàu dạt lên cửa Đại, Mỹ Tho. Tôi nhớ lúc ấy anh Trần Phong hỏi: “đi hướng nào, Mười?. Anh bảo: “Cho tàu cắt sóng xuôi xuống phía Nam” Chừng 6 giờ sáng thì nhận ra Cồn Lợi. Tàu men Khâu Băng, tấp vào bến.

- Phải phải - Anh Mười hồ hởi - Thấy tàu to vào, anh em ở bến mừng quá trời, tổ chức lấy hàng luôn. Ba ngày sau thì 66 tấn vũ khí đã đưa được vào kho. Sau khi tàu Phương Đông 1 của anh Bông Văn Dĩa và anh Lê Văn Một đưa 30 tấn vũ khí vào Cà Mau thành công, ngày 19-9-1962, Quân ủy Miền quyết định thành lập đoàn 962 để xây dựng bến bãi và tiếp nhận vũ khí từ miền Bắc đưa vào. Bến Bến Tre là một bộ phận của đoàn 962, có biệt danh là A101. Gặp lại người quen cũ, mừng vui lắm. Chuyện trò suốt đêm. Sau chuyến đó, tôi có đưa tàu vào Bến Tre mấy lần nữa… Chuyện cũng xa rồi…

Kể đến đây, tôi phát hiện nơi khóe mắt anh Mười, thoáng một nỗi niềm. Trên đường về thành phố chiều đó, anh Nguyễn Xuân Thơm mới cho tôi hay, cuộc đời anh Mười Tiến cũng trắc trở. Những năm anh theo tàu ra Bắc xin vũ khí, người vợ trước ở quê có thêm hai đưá con ngoài giá thú. Hồi đưa tàu vào Bến Tre, bà con quê hương thương anh, mới bảo: chị ấy sang ngang rồi, anh lo việc của mình đi. Anh buồn, nhưng là người sống nhân hậu, nên sau giải phóng, anh vẫn có trách nhiệm với mấy đứa con riêng của vợ, nuôi ăn học và tìm cho công ăn việc làm…

Bữa cơm trưa chị Quỳnh chuẩn bị, quá ngon! Anh Mười và anh Thơm ngồi nhâm nhi ly bia, say sưa nhắc lại những chuyến đi, những kỷ niệm. Chúng tôi vui lây niềm vui của hai người. Anh Mười nói rằng, chuyến theo tàu 143 của ông Thêm vào Vũng Rô rồi phải hủy, tiếng nổ hồi đó vẫn để lại di chứng, anh bị lãng tai. Lại cười. Lại ôn chuyện mắc cạn ở Hoàng Sa năm 1964 và năm 1967, hai lần hủy tàu.

- Không chỉ vì sóng gió quá to tàu ủi vào đá ngầm, mắc cạn, mà thời đó kinh nghiệm chưa mấy nhiều, lại chủ quan. Sau này thuyền trưởng Nguyễn Tấn Ích bị kỷ luật, thương ông quá. Cũng tội, một người hiền lành, rất trách nhiệm nhưng không may mắn. Ông Ích thương tôi lắm. Thời ấy thật nhiều người tốt. Ông già Lộc, ông già Nhợ, tuyệt vời. Trần Hoàng Chiếu, tuyệt vời; Thạnh, thuyền trưởng tàu 41, tuyệt vời; ông Lê Văn Thêm, ông Đặng Quốc Thân cũng hết sức tuyệt vời…

- Tôi không tuyệt vời sao, anh Mười? - Nguyễn Xuân Thơm hỏi vui.

- Nguyễn Xuân Thơm hả? Nguyễn Xuân Thơm cũng tuyệt vời. Hai lần hủy tàu , lội bộ vượt Trường Sơn ra Bắc sao lại không tuyệt chớ.

Anh Mười cười khà khà. Chúng tôi và chị Quỳnh cười theo. Bên ngoài trời vẫn ong ong. Gió lặng. Và nắng vẫn hối hả đổ nóng xuống mặt đất.

Đoàn - Kết - Đấu - Tranh - Thắng - Lợi

"...Nhận được chỉ thị của Trung ương, đồng chí Trần Văn Long (Mười Dài) Bí thư Tỉnh uỷ Trà Vinh xuống huyện Duyên Hải và thành lập một đội đặc biệt gồm 15 anh em do đồng chí Nguyễn Thanh Lồng (Hai Pháp) làm đội trưởng và đồng chí Nguyễn Văn Chấp (Hai Lửa) làm đội phó để chuẩn bị tàu thuyền vượt biển ra Bắc. Địa điểm đóng quân của đội ở Khâu Hút (xã Trường Long Hoà, huyện Duyên Hải). Đội đã nhờ chị Kiên mua được một thuyền cánh dơi của đồng bào miền Bắc di cư, rồi sửa sang lại. Đồng chí Mười Dài chọn 6 anh em trong đội để đi ra Bắc. Sáu đồng chí đó là : Trần Văn Mao, Nguyễn Văn Khương, Nguyễn Văn Chăm, Nguyễn Thanh Lồng, Hồ Văn In và Ngô Văn Tôi. Ngày mồng 3 tháng 8 năm 1961 thuyền xuất phát tại Khâu Hút..." (Lịch sử Lữ đoàn 125- tức đoàn tàu không số - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân -năm 2001).

Để tìm các anh trên tàu Trà Vinh đã vượt biển ra miền Bắc năm 1961, tôi và Tô Hải Nam mò xuống miền Tây. Cần Thơ thay đổi nhiều quá. Vượt qua chiếc cầu dây văng dài nhất Đông Nam Á, thành phố hiện ra tươi mới, hiện đại… Tươi mới hiện đại nhưng vẫn đậm chất Nam bộ, vẫn có cái gì đó rất “miệt vườn”, sông nước.

- Các anh đi tàu Trà Vinh ra miền Bắc hổi mất cả rồi, mấy em ơi. Có ai còn nữa mà gặp! - Anh Khưu Ngọc Bảy ngậm ngùi nói khi hay ý định của chúng tôi. Anh Bảy một thời là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 962, đơn vị phụ trách các bến Cà Mau, Trà Vinh và Bến Tre. Anh am tường, gắn bó và hết sức nhiệt tâm với con đường chở vũ khí trên biển.

Tôi và Tô Hải Nam nhìn nhau, biết là chậm mất rồi, muộn mất rồi, và có lỗi rồi!… Năm mươi năm, với một đời người đâu phải ngắn!

Tuy vậy tôi còn chút an ủi. Cách đây khoảng 7 năm, tôi có may mắn gặp được ông Hồ Văn In, tức Anh hùng Hồ Đức Thắng, một trong 6 người của thuyền Trà Vinh vượt biển ra Bắc xin vũ khí. Năm đó, theo hướng dẫn của anh Khưu Ngọc Bảy, tôi gắng đi và đã tìm được ông.

Từ Vĩnh Long, theo đường 53, tôi xuôi xuống Trà Vinh. Thị xã Trà Vinh nho nhỏ, dịu mát. Rồi cũng theo đường 53, tôi tới được huyện Duyên Hải. Người anh hùng của đoàn “tàu không số” sống ở miệt đó. Không khó khăn lắm để tìm nhà ông, bởi hỏi ông Thắng anh hùng, người dân nào thuộc xã Hiệp Thạnh cũng rành.

Năm đó, ông và bà Nguyễn Thị Ba, vợ ông đã không mấy khỏe, nhưng vẫn minh mẫn. Hai người sống trong ngôi nhà bằng gỗ, là quà tặng từ năm 1979 của Công ty xuất nhập khẩu Trà Vinh. Một ngôi nhà đẹp trong một khu vườn đẹp. Thoáng. Nhiều nắng. Nhiều gió...

- Bẩy đứa con, nhưng về già, lại chỉ tôi và bà ấy bầu bạn với nhau...- Ông Hồ Đức Thắng mời chúng tôi ngồi xuống bộ ghế gỗ, và nói- Con cái, có công có việc của chúng, thỉnh thoảng bọn nó thay nhau về thăm, hoặc cho các cháu về chơi... Làm sao được. Thôi thì ông chăm bà, bà chăm ông vậy...- Thấy tôi cứ ngó nghiêng ngôi nhà, ông nói tiếp: Bộ Tư lệnh Hải quân định xây nhà trên phố; Quân khu 9 cũng phân đất nơi thị xã, nhưng tôi từ chối, trả lại hết. Già rồi, nhiều nhà, nhiều đất làm gì. Hồi ở rừng, tấm lá trải xuống, cũng xong. Còn bao nhiêu người khó khăn hơn mình...Vợ chồng già được ở như vầy, đã tốt lắm rồi...Với nữa tôi và bà ấy cũng khó có thể bỏ nơi đây mà đi...Cả một đời hoạt động gắn bó. Nghĩa tình sâu nặng lắm...

Ông tên thật là Thọ. Hồ Văn Thọ. Trong kháng chiến chống Pháp, để dễ hoạt động, ông đổi tên thành In, khi vượt biển ra Bắc, tổ chức đặt tên là Bảy Thắng...

- Việc đặt tên cũng rắc rối chớ - Nhắc tới kỷ niệm cũ, ông hồ hởi hẳn, và kể rất vui - Chuyện là vầy, khi anh Mười Dài, Bí thư Tỉnh ủy, cử sáu anh em tôi vượt biển ra Bắc xin vũ khí, nói rằng, để có ý nghĩa và cũng nhằm giữ bí mật, nên đổi tên các thành viên thành khẩu hiệu : Đoàn - Kết - Đấu - Tranh - Thắng - Lợi. Nhưng ai mang tên Đoàn, ai mang tên Kết..., tranh cãi mãi. Cuối cùng bốc thăm. Viết sáu bí danh vào sáu mẩu giấy, ai bốc được chữ nào, mang tên đó. Anh Nguyễn Văn Mao bốc được chữ Đoàn. Lại thứ ba nên gọi là Ba Đoàn. Anh Nguyễn Văn Khương đổi thành Tám Kết; anh Nguyễn Văn Chăm là Hai Đấu. Anh Nguyễn Thanh Lồng thành Hai Tranh. Tôi bốc được chữ Thắng. Thằng con thứ ba của tôi cũng tên Thắng, má nó đặt khi mới lọt lòng, vậy là thành Bảy Thắng cha, Ba Thắng con... Anh Ngô Văn Tôi thành Bẩy Lợi. Tên sáu anh em hợp thành : Đoàn - Kết - Đấu - Tranh - Thắng - Lợi. Những cái tên đó, qua năm tháng đã trở thành tên chính thức của mỗi người. Khi được phong Anh hùng năm 1967, tôi cũng mang tên Hồ Đức Thắng luôn.

- Nhưng tại sao Tỉnh uỷ lại cử chú ra Bắc, mà không là người khác- Tôi hỏi.

- Câu hỏi có lý đó! Tại sao ông Mười Dài lại chọn Bảy In vượt biển chuyến này ? Bởi trong mấy năm kháng chiến chống Pháp, Bảy In đã làm công việc chở vũ khí từ khu Năm vào Nam Bộ. Sau năm 1954, dẫu ở lại hoạt động quanh Duyên Hải, lúc làm bí thư chi bộ, lúc làm xã đội trưởng, nhưng gốc gác mình, tổ chức nắm vững lắm...

- Chuyến vượt biển ấy, nghe nói các chú bị lạc sang Ma Cao, Trung Quốc?

- Đúng! Đã tưởng là không còn cái ngày hôm nay chớ... Chừng cuối tháng 7 năm 1961, chiếc thuyền cánh dơi dùng để vượt biển ra Bắc vẫn chưa lắp được máy. Tôi thưa với đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ: “Báo cáo anh Mười, không có máy thì đi buồm. Hồi chín năm, tụi tôi cũng đi bằng buồm. Lừng khừng, tháng tám bão về là trở tay không kịp”. Anh Mười nhất trí: “Tôi tin vào anh và mọi người”. Ngày mồng 3 tháng 8, thuyền xuất phát tại Khâu Hút... Đã cố đi sớm, tránh mùa bão, vậy mà ra tới Nha Trang, gió lớn ập về. Lúc này dừng lại không ổn, bởi khi đi, chúng tôi đã chọn “ phương án bất hợp pháp” . Đành cho thuyền xuyên qua bão, hướng phía Bắc, đi miết. Bão tan, chúng tôi bị dạt lên một nơi, mà sau này mới rõ là Ma Cao. Cảnh sát Anh, cảnh sát bản địa xì xồ tiếng Tây, tiếng Tàu. Mình không rõ mô tê chi, chỉ vung tay làm hiệu. Và hình như họ cũng hiểu được rằng chúng tôi là thuyền đánh cá từ mãi khu vực phía Nam Việt Nam bị bão nên lạc vô đây. Lục soát, không có gì nghi vấn, ngôn ngữ thì bất đồng, cuối cùng họ thả . Chạy được nửa ngày, lại lạc vô Du Hải, Quảng Châu. Là sau này mới hay, lúc đó chỉ biết đã bị bắt... Chúng tôi đòi gặp đại sứ quán Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Yêu cầu được đáp ứng. Ngày 16 tháng 8, đại diện của ta tại Quảng Châu đến đón. Mấy hôm sau nữa, sáu anh em đi tàu hoả về Hà Nội...Cũng đã hơn bốn chục năm rồi...

Hơn bốn mươi năm, nhưng ông Bảy, hồi đó đã cụng tuổi tám mươi, vẫn nhớ không sai chi tiết nào. Ông kể rằng sau khi về đoàn “tàu không số”, ông được cử đi chuyến thứ hai vào Bạc Liêu, trên chiếc tàu gỗ, mang tên "Phương Đông 2”. Rồi ông đi tàu sắt vào Bến Tre. Vào Trà Vinh. Và đến nhiều nơi khác.

- Chú tìm hiểu nhiều, biết chuyến đi của tàu 187 vào Trà Vinh tháng 6-1966 chớ ?- ông hỏi tôi.

Về chuyến đi đó của tàu 187, tôi có biết, cũng oanh liệt lắm, tàu vào Trà Vinh, gặp địch, nhưng không hủy được tàu. May là anh em thủy thủ lên được bờ.

- Chúng tôi kẹt lại bến - ông Bẩy Thắng kể tiếp - và được biên chế tạm thời thành một đội, thuộc đoàn 962... Thời gian sau, đơn vị cho tàu vô, rước về... Trong thời gian kẹt lại Trà Vinh, tổ chức bí mật bố trí để vợ tôi tới thăm. Chúng tôi được gặp nhau trong thoáng chốc. Ai dè, lần ấy, bả mang thai. Năm sau thì con Huệ, đứa con gái út ra đời. Thời mang thai, bả cực khỏi nói...Tôi nhìn ông Bảy Thắng, lại nhìn bà Ba, vợ ông, cả hai đã yếu lắm, nhưng là chỗ tựa của nhau những năm cuối đời, thấy có cái gì đó cảm động. Một mối tình đẹp lúc trẻ, và càng đẹp hơn lúc về già... Lần ấy, hai người sau bao xa cách được gặp nhau, gặp nhanh như thể trong mơ. Bao mong chờ nhớ nhung dồn nén, có cơ bung ra. Đam mê. Cuống quýt. Hạnh phúc...Rồi anh theo tàu ra Bắc. Chị trở về, cay cực chịu bao điều tiếng. Tình thế lúc ấy, vì bí mật của con đường, không cho chị công khai rằng đứa con sắp ra đời là của anh. Nhưng chị cũng không đủ sức để phải chịu tiếng “chửa hoang”. “Chửa hoang”, với người phụ nữ, trong cái nhìn của bà con lối xóm là dơ dáy, xấu xa lắm! Ấy là chưa tính, chị còn là đảng viên, còn là uỷ viên Ban chấp hành phụ nữ xã... Không sao khác, đành âm thầm nín chịu. Điều an ủi duy nhất của chị là, luôn nghĩ rằng có anh bên cạnh. Chi bộ khai trừ. Tổ chức phụ nữ không tín nhiệm. Bao năm hoạt động, vậy là trắng tay...

- Sau 1975, khi tôi về, mọi điều mới vỡ ra - ông Thắng kể - Tổ chức có ý phục lại đảng tịch cho nhà tôi, nhưng bả không nghe. Bả có lý: “Vào Đảng là để cống hiến, là để làm việc cho Đảng, cho dân. Thời trẻ, việc nào làm được, mình đã làm rồi. Vô du kích thời chống Pháp. Làm đoàn thể thời chống Mỹ...Nay đã già, làm được gì nữa mà vô. Mình vô là để đóng góp thiệt, chớ đâu phải vô để lấy cái danh hiệu đảng viên. Khỏi hình thức đi ông”. Nghe thấy phải, tôi thua. Bả nghĩ sâu hơn mình thiệt.

(Tiếp theo)

Ông Thắng cười. Nụ cười của người biết bằng lòng, thoả mãn với những gì mình có... Ngoài vườn, nắng trải vàng, và gió từ biển thổi về, lao xao. Nơi con đường cái mới mở chạy qua ngõ, lạo xạo tiếng lốp xe... Tôi rót chén nước, đưa về phía ông:

- Nghe nói chú từng đưa ông Lê Đức Anh từ ngoài Bắc vô?

- Có! Lâu rồi. Nhưng vẫn nhớ. Đó là đầu tháng 3-1964. Đội tàu số 5 do Nguyễn Phan Vinh làm thuyền trưởng, tôi làm chính trị viên chở 69 tấn hàng cho Bạc Liêu vừa về, thì đoàn trưởng Đoàn Hồng Phước kêu lên. Ông bảo : “Thuyền của Vinh và Thắng chuẩn bị đi tiếp vô Bạc Liêu nghe. Lần này ngoài vũ khí, chở thêm sáu người khách. Toàn khách bự, nhớ chu đáo”. Thời bấy giờ đâu rõ một trong sáu người ấy là ông Lê Đức Anh. Chỉ biết có một người cao cao, ông Phước luôn kêu bằng thủ trưởng và thân chinh tiễn xuống tàu... Đêm mồng năm tháng ba chúng tôi nhổ neo. Đến Bạc Liêu, bàn giao “hàng”, bàn giao “khách” xong, chúng tôi lại quay ra... Mãi sau mới biết người cao cao là ông Sáu Nam Lê Đức Anh. Cùng đi với ông có năm cán bộ của Bộ Tổng tham mưu... Năm 1973, ổng lại ra Bắc, cũng bằng con đường biển, chú biết chuyện đó chớ ?

Chuyện ông Lê Đức Anh trở ra miền Bắc trên tàu “hai đáy”, tôi có biết. Đó là câu chuyện lý thú, liên quan đến nhiều người, nhiều sự kiện. Tôi bắt chuyện gia đình. Ông Bảy nói:

- Nhà này đàn ông vô bộ đội hết. Bốn thằng con trai, đều ở Đoàn 962... Gia đình tôi gắn bó với đoàn, bởi vậy... Tôi làm nhiệm vụ chở vũ khí vô, các con tôi có nhiệm vụ cất giấu, chuyển lên khu 6, khu 7... Đoàn 962 là anh em sinh đôi của đoàn 125 mà...

- Mấy người đi cùng thuyền dạo đó, sau này sao, chú ?

- Ờ phải, không nhắc tới họ, khuyết điểm lớn nghe...Khi ra Bắc, tôi được cử làm đội trưởng, anh Nguyễn Thanh Lồng, tức Hai Tranh làm chính trị viên. Hồi đó anh Hai Tranh có uy tín lắm. Lần Bác Hồ gặp anh em miền Nam đi thuyền vượt biển ra Bắc, anh được thay mặt mọi người phát biểu... Nói ngon lành. Anh thưa rằng: “ Thưa Bác, chúng cháu ra đây có một nguyện vọng là xin được thật nhiều vũ khí, loại vũ khí có thể phá được đồn bốt và ấp chiến lược của Mỹ ngụy”. Hai Tranh cũng là một trong sáu người đi chuyến trinh sát mở đường vào Bạc Liêu hồi tháng 4 năm 1962 với ông Bông Văn Dĩa... Rồi anh được phân công ở lại, phụ trách bến Trà Vinh. Năm 1971, một lần đi công tác, anh bị tụi lính ngụy phục kích, bắn chết, thiệt tội...Hai con trai của anh đầu quân vô đoàn 962, cũng hy sinh... Chị Hai Tranh bây giờ sống với cô con gái út... Là Mẹ Việt Nam anh hùng, nhưng cuộc sống chật vật lắm... Mấy lần muốn đến thăm chỉ, nhưng chân cẳng yếu, mắt lại mờ, nên đành...Anh Tám Kết, tức Nguyễn Văn Khương, theo anh Bông Văn Dĩa và Lê Văn Một đi chuyến tàu đầu tiên chở 30 tấn vũ khí vào Bạc Liêu, cũng không còn; anh Trần Văn Mạo, tức Ba Đoàn; anh Nguyễn Văn Chăm tức Hai Đấu, đều hy sinh khi địch càn vô cứ...

Đôi mắt ông Bẩy đã mờ, càng mờ hơn. Ông ngồi lặng. Hình như có cái gì đó đang đè lên ông, nặng lắm.

Tạm biệt ông Bảy, rời Trà Vinh, vẫn theo đường 53 trở lại Vĩnh Long để từ đấy ngược quốc lộ 1 về TP Hồ Chí Minh, tôi thầm hứa rằng, nếu có dịp, sẽ trở lại thăm ông… Vậy mà, muộn quá rồi! Nhân chứng cuối cùng của tàu Trà Vinh vượt biển ra Bắc dạo đó cũng đã lại ra đi nốt… Những gì tôi biết và viết về ông ở trên, xin được coi là nén nhang thắp lên phần mộ ông và các anh trên tàu Trà Vinh đã vượt biển ngày ấy: Đòan – Kết – Đấu – Tranh - Thắng – Lợi.

Ra miền Bắc, đi trinh sát và chở vũ khí về

“Tỉnh Bạc Liêu cử hai đội thuyền đi ra Bắc (Còn gọi là đội thuyền Cà Mau- Trước đây Bạc Liêu và Cà Mau là một tỉnh, có tên là Bạc Liêu. Sau này tỉnh Bạc Liêu tách làm hai tỉnh, tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau- ĐK) Đội thuyền thứ nhất do đồng chí Bông Văn Dĩa (Hai Dĩa) phụ trách. Các đội viên gồm Tư Phước, Ngô Văn Tần (Năm Kỷ), Nguyễn Dũng (Sáu Dũng), Bảy Cửa, Trần Văn Đáng (Ba Cụt), Võ Tấn Thành (Ba Thành) và đến ngày lên đường bổ sung thêm đồng chí Tư Quang (Hai Chiếu). Tất cả có 8 người.

Đêm 1-8-1961, thuyền rời rạch Cá Mòi (mũi Cà Mau), chuyến đi khá thuận lợi nên đến chiều mồng 7-8-1961, thuyền cập vào cửa sông Nhật Lệ (Quảng Bình).

Tại đây, thuyền của đồng chí Hai Dĩa bị công an Quảng Bình bắt giữ vì tình nghi là biệt kích của chính quyền Sài Gòn. Sau ít ngày thẩm vấn, đoàn được đưa về nhà khách tỉnh. Ngày 11-8 anh em trong đoàn được đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng tới thăm. Hôm sau đoàn ra Hà Nội.

Đội thuyền thứ hai do đồng chí Nguyễn Thanh Trầm (Tư Lưới) phụ trách. Các thủy thủy gồm: Tư Báo, Ba Mang, Hai Danh, Lâm Văn Vĩnh (Sà Vĩnh). Ngày 3-8-1961 thuyền xuất phát. Song đi ngang Huế, thuyền bị thủng, nước tràn vào, anh em đành cho thuyền quay lại, và cập vào Trà Vinh sửa chữa. Sau đó thuyền trở về Cà Mau…” - (Lịch sử Lữ đoàn 125- tức đoàn" tàu không số" - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân - năm 2001, trang 25, 26.)

Trong số những người của tỉnh Bạc Liêu vượt biển ra Bắc năm 1961, chúng tôi biết anh Ngô Văn Tân (tức Năm Kỷ) hiện đang sống ở thành phố Hồ Chí Minh. Mấy năm qua tôi có ý tìm, nhưng thành phố mênh mông quá. Lần này may có anh Nguyễn Xuân Thơm nhiệt tình, nên chúng tôi mới có cơ gặp được người đã cùng với ông Bông Văn Dĩa ra Bắc thời ấy. Anh Nguyễn Xuân Thơm tham gia chở vũ khí vào Nam Bộ bằng đường biển từ những chuyến đầu tiên. Năm 1975, anh là một trong ba thuyền trưởng của đoàn 125 chở bộ đội đi giải phóng quần đảo Trường Sa... Không có anh, khó mà tìm ra người cần tìm.

Buổi chiều, anh Thơm đưa anh Năm Kỷ đến Nhà khách Hải quân... Anh Năm khoẻ, đẹp lão và trẻ hơn tôi nghĩ.

- Thì thời vượt biển ra ngoải, anh chưa tới mười tám mà, trẻ nhất đội - anh Năm vui vẻ kể - Ông Bông Văn Dĩa kêu anh là thằng út. Đêm mồng 1-8 thuyền tụi anh rời rạch Cá Mòi, bảy ngày đi biển thì tấp được vô Nhật Lệ, Quảng Bình, chuyện ấy sử sách ghi rồi. Vài ba hôm kế đó, anh Ba Duẩn cho rước về Hà Nội. Chuyến vượt biển suôn sẻ, ai cũng mừng, cũng vui. Nhưng đến khi được cử trở lại Bạc Liêu để trinh sát và truyền đạt chủ trương mở bến của trên, sinh chuyện. Anh Võ Tấn Thành và anh Tư Quang, biết thuyền trở về không chở vũ khí, nhất quyết không đi. Kỳ cục hết mức. Hai chả nói rằng, Tỉnh uỷ cử ra Bắc là để xin súng đạn về chiến đấu, vượt sóng gió ra được rồi, lại đi thuyền không trở vô, nghĩa là sao? Mấy cha cũng có lý của mấy cha... Anh Trần Văn Đáng, vì chỉ còn một tay, sợ địch nghi, đành ở lại. Trên cử anh Hai Tranh bên thuyền Trà Vinh qua, bổ sung cho chuyến đi. Vậy là chuyến trinh sát ấy có ông Dĩa, ông Hai Tranh, Tư Phước, Bẩy Cửa, Sáu Dũng và anh...

(Tiếp theo và hết)

Về chuyến trinh sát đầu tiên ấy, cuốn Lịch sử Lữ đoàn 125 Do nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát hành năm 2001, viết: “...Sáu người được đoàn bố trí ở 18 phố Nguyễn Thượng Hiền (Hà Nội). Đầu tháng 4 năm 1962, Trung tướng Trần Văn Trà, người đã hoạt động những năm kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, hiểu biết nhiều địa phương, thông thuộc nhiều bến bãi được Quân uỷ Trung ương giao đặc trách theo dõi mở con đường biển, cùng Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh, Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất Trung ương, đến gặp anh em và trực tiếp giao nhiệm vụ. Nhiệm vụ của đội thuyền khi trở lại Nam Bộ là : báo cáo với Khu uỷ chủ trương của Trung ương về việc đưa vũ khí vào Nam Bộ. Nhưng muốn như vậy, phải có bến bãi để nhận hàng. Có ba phương án trong việc tổ chức xây dựng bến bãi: 1. Lấy các đảo Thổ Chu, Phú Quốc, Nam Du, Hòn Ông, Hòn Bà làm căn cứ lâu dài để xây dựng các hầm cất giấu hàng. Chuẩn bị các đội tàu thuyền để tiếp tục chở hàng vào đất liền.

2. Lấy khu vực Hòn Chuối và cửa sông Bãi Hấp để làm chỗ sang hàng hoặc thả hàng xuống biển. Lợi dụng khu vực này nhiều ngư dân ra đánh cá để trà trộn nhằm bí mật vớt hàng lên rồi đưa vào bờ.

3. Lấy các cửa sông khu vực Cà Mau làm nơi chuyển hàng vào. Song đây là phương án dự phòng nếu 2 phương án trên không thực hiện được.

Đồng chí Bông Văn Dĩa phải học thuộc lòng chỉ thị của Trung ương và nhiệm vụ của chuyến đi, cùng một số mật danh để liên lạc với Trung ương khi cần thiết.

Tuy thuyền trở về không hề có một viên đạn, một khẩu súng, song anh em rất phấn chấn vì rõ rằng cái quý nhất lúc này không hẳn chỉ là mấy tấn vũ khí mà là chủ trương của Đảng được truyền đạt tới miền Nam, đặng mở con đường trên biển nhằm có hàng trăm, hàng ngàn tấn vũ khí. Cuộc chiến đấu còn lâu dài !

Mọi giấy tờ hợp pháp như giấy thông hành, căn cước, giấy làm ăn của ghe thuyền cùng lương thực, thực phẩm, dầu mỡ được đoàn 759, Ban Thống nhất Trung ương và Tổng cục Hậu cần lo chu đáo, đầy đủ.

Ngày mồng 5 - 4 - 1962, Đoàn 759 đưa sáu anh em từ Hà Nội vào Quảng Bình. Sau khi kiểm tra lại một lần nữa thuyền, máy, đêm mồng 10 - 4 -1962, chiếc thuyền rời cửa Nhật Lệ ( Quảng Bình) đi về hướng Nam. Bốn ngày sau, 14 - 4, thuyền đến vùng biển Nha Trang, cách bờ chừng 150 hải lý thì gặp hai tàu Mỹ từ Phi-líp- pin chạy về. Chúng cho tàu chạy vòng quanh, cách thuyền mấy chục mét. Và cứ vậy quần đảo cho tới 14 giờ. Nhờ bình tĩnh xử lý, đóng vai những dân chài ra khơi đánh cá bị gió đẩy xa bờ, nên mọi người trên thuyền không bị bọn Mỹ nghi ngờ. Tuy vậy, để đối phó với mọi tình huống bất trắc, anh em thủ tiêu hết hải đồ, la bàn. Từ đây, họ cứ nhằm hướng Nam mà đi, "đi vo". 7 giờ sáng ngày 15 - 4, bắt được "cù lao Bảy Xã" ( tức cù lao Thu), từ đó có thể xác định phương hướng bằng mắt tương đối chính xác. Ngày 18 - 4, thuyền về tới cửa Bồ Đề (thuộc Tân Ân, Ngọc Hiển, Cà Mau). Thuyền đi vào cửa Rạch Ráng. Đến 10 giờ đêm hôm đó thì cập vào Vàm Lũng. Chuyến đi trinh sát đã thành công !

Nhận được tin “ thuyền Bạc Liêu"trở về, Khu uỷ cử đồng chí Phan Văn Nhờ (Tư Mao) ra cửa Vàm Lũng đón. Đồng chí Phan Văn Nhờ và đồng chí Bông Văn Dĩa vốn là bạn cũ, đã từng hoạt động bên nhau thời đánh Pháp. Đồng chí Tư Mao đưa đồng chí Bông Văn Dĩa đi gặp Khu uỷ. Tiếp đồng chí Dĩa có anh Ba Bường (Ba Bình), Bí thư Khu uỷ ; anh Mười Khẩn ; anh Tư Bình (Vũ Đình Liệu) ; anh Bảy Thạng (Trần Văn Bỉnh) ; anh Mười Kỹ (Phạm Ngọc Sến) và một số Khu uỷ viên khác. Sau khi nghe báo cáo, Khu uỷ đồng ý để đồng chí Bông Văn Dĩa đi ra các đảo nắm tình hình theo ý kiến của Trung ương. Cùng đi có đồng chí Tư Mao và hai đồng chí nữa. Họ sắm thuyền, lưới và ngày 19 - 5 - 1962, bắt đầu ra Hòn Chuối, Thổ Chu, Nam Du, Hòn Ông, Hòn Bà... Sau khi xem xét, họ thấy rằng: Hòn Chuối quá nhỏ, không có chỗ cất giấu hàng. Thổ Chu quá xa bờ. Hòn Ông, Hòn Bà hiện do lực lượng Cam-pu-chia đóng giữ. Nam Du, Phú Quốc quá đông bà con đến lập thôn ấp trên đó sinh sống. Phương án thả hàng xuống biển rồi thuyền ra vớt quá mạo hiểm và dễ mất hàng. Chỉ còn cách cho tàu thuyền đi vào các kênh rạch, giấu thuyền vào đó để lấy hàng. Trong số kênh rạch, Vàm Lũng là nơi có nhiều thuận lợi nhất, khi nước cường, tàu to có thể vào được.

Được Khu uỷ đồng ý, ngày 26 - 7 - 1962, đồng chí Bông Văn Dĩa trở ra Trung ương báo cáo tình hình. Chuyến đi này có sáu người : Bông Văn Dĩa, Sáu Danh, Sáu Thông, Ngô Văn Tân (Năm Kỷ), Bảy Cửa và Sà Vĩnh (người Thái Lan). Như vậy trong lần trở ra, chỉ có Năm Kỷ, Bảy Cửa là người cũ, còn Sáu Danh, Sáu Thông và Sà Vĩnh là "lính mới".

Ngày mồng 1 - 8 - 1962 thuyền cập vào Nam Định. Ngày 2 - 8, đoàn trưởng Đoàn Hồng Phước vào đón ra Hà Nội.

Đồng chí Bông Văn Dĩa báo cáo lại với đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Trần Văn Trà toàn bộ chuyến đi trinh sát và ý định của Khu uỷ Khu 9 để xin Trung ương phê duyệt. Ý kiến của Khu uỷ Khu 9 là không có đảo nào đủ điều kiện đặt bến. Việc đặt bến trong đất liền thuận lợi và có thể thực hiện được. Khu uỷ đã chọn một vài cửa rạch và chừng một tháng nữa có thể đón tàu vào. Đồng chí Lê Duẩn hỏi: “Theo đồng chí, nơi nào có thể cho tàu vào được ?”. Đồng chí Bông Văn Dĩa đáp: “Vàm Lũng có thể vào được !”. Đồng chí Lê Duẩn hỏi tiếp: “Tàu 30 tấn có thể vào Vàm Lũng được không ? Nếu chắc thì trên giao cho đồng chí đi chuyến đầu tiên”....

Tôi hỏi anh Năm Kỷ:

- Rồi những ai đi chuyến đầu tiên, đưa vũ khí vào Nam Bộ hồi đó, anh?

- Chuyến đi này vẫn do ông Dĩa làm chính trị viên, còn thuyền trưởng là ông Lê Văn Một, chà, chuyện ông Lê Văn Một cũng thú vị lắm nghe. Ông từng làm thủy thủ cho Pháp, sau giác ngộ cách mạng. Năm 1954, ra Bắc, làm cảng trưởng Cảng Cẩm Phả, rồi chuyển qua làm thuyền trưởng đầu tiên của “tàu không số”. Các thành viên gồm: Huỳnh Văn Sao, tức Năm Sao; Nguyễn Văn Bé, gọi là Tư Bé; Võ Tấn Thành; Nguyễn Văn Luông; Nguyễn Văn Nhung; Nguyễn Xuân Lai, tức Sáu Lai; Sáu Rô; Thanh Đen; Tám Kết và anh, Năm Kỷ. Tàu rời bến Đồ Sơn đêm 11 – 10 – 1962. Nhưng trước đó có chuyện thế này. Khi chuẩn bị lên đường, bọn anh phát hiện ra máy tàu có sự cố. Ông Phạm Hùng và ông Trần Văn Trà biết chuyện, lo lắm. Ông Hùng đề nghị bốc máy lên, thay cái khác. Lúc đó thợ máy Năm Sao đứng bên cạnh nói: “Thưa anh Hai, thời cơ chở vũ khí vô chiến trường chỉ có một, đây là chuyến mở đường, vạn sự khởi đầu nan, tôi không duy tâm, nhưng quyết rồi là đi. Tôi xin lấy sinh mạng mình ra bảo đảm rằng sẽ sửa để máy chạy tốt....”. Và, cứ như có phép lạ, ổng sửa được thiệt. Con tàu chở 30 tấn vũ khí rời bến ngon lành. Trên đường đi, mấy lần nó trở bệnh, ông Năm trị hết. Không có ổng, dập dềnh giữa trùng khơi, mạng tụi anh hồi đó coi như bỏ. Con người này ít chữ, mà thiệt giỏi, thiệt thông minh. Sau đó, chuyến đi nào quan trọng, đoàn lại vời đến Năm Sao. Mở đường vô Bà Rịa: Năm Sao. Đưa vũ khí đến Khu 5, những chuyến đầu, lại Năm Sao... ổng đi miết. Không biết say sóng. Sinh ra như thể để sống trên biển vậy...

Hôm ở Cần Thơ, nhờ anh Khưu Ngọc Bảy giáp mối, chúng tôi may mắn gặp được đại tá Nguyễn Xuân Lai, tức Sáu Lai, người đi chuyến đầu cùng anh Năm Kỷ hồi 1962, tức tàu Phương Đông 1, chở được 30 tấn vũ khí vào Cà Mau. Hỏi về chuyến đi đó, anh Sáu vui lắm, hào hứng nói: “Ông Năm Sao là ân nhân của tụi này đó. Chuyến đầu tiên ấy, không có ổng sửa máy, tụi tôi làm mồi cho cá rồi. Tàu tới cù lao Thu thì máy hỏng, vì là máy cũ của Mỹ mà. Nhưng máy trưởng Huỳnh Văn Sao đã khắc phục được. Mặc dù thả trôi mất một ngày một đêm, nhưng cuối cùng con tàu lại hướng về phía Nam đi miết. Khi tàu đi vô hải phận miền Nam, ổng cũng là người đầu tiên phát hiện ra Côn Đảo. Nhiều kinh nghiệm, ổng giúp thuyền trưởng Lê Văn Một chỉnh hướng đi, bởi vậy bắt được đất liền không mấy khó khăn... Chừng năm giờ chiều thì chúng tôi nhìn thấy hàng đáy nơi cửa sông. Ông Năm khẳng định: tới rồi...” .

Tôi hỏi thêm đôi điều về cuộc sống sau này của ông Năm Sao, anh Sáu Lai cũng chỉ: “Ông Năm bị bệnh, mất ở Trà Vinh”. Mọi thông tin, chỉ thế. Khi tôi kể chuyện đó với anh Năm Kỷ, anh lấy làm tiếc. Lần vào Trà Vinh để gặp ông Bảy Thắng, cách đây gần chục năm, tôi có ý định tìm mộ chú Năm Sao, đặng thắp cho ông nén nhang, nhưng không thực hiện được. Những người đi chuyến Phương Đông 1 đầu tiên đó, ông Bông Văn Dĩa, ông Lê Văn Một, Nguyễn Văn Bé, Tám Kết cũng đã qua đời...

Trích ký “Huyền thoại tàu không số” của nhà văn Đình Kính, Nhà xuất bản Văn học, ấn hành năm 2016.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Những người vượt biển ra Bắc