Truyện ngắn của Hoàng Phương Nhâm

Bà cụ Thăng lại chống gậy ra ngồi ở gốc cây hồng đầu ngõ. Trời đã bắt đầu chớm heo may. Mùa hồng chín cũng về theo. Cây hồng mòng trước ngõ cũng hơn ba chục tuổi, được chăm chút quả nào quả nấy vẫn to như cái chén tống treo lúc lỉu trên cành, lên mã hây hây như má con trẻ. Vậy mà chẳng quả nào có hột. Ai cũng khen giống hồng quý, quanh vùng chẳng nhà nào có. Với bà cụ Thăng, cây hồng như sự hiện diện của một con người, nhất là từ ngày Thăng đi vắng.
Dạo còn học cấp ba trên huyện, Thăng mang ở đâu một đống các giống cây về trồng ở vườn nhà và hì hục chăm bón. Chiều nào không đi học, không phải giúp mẹ làm đồng là cậu lại hí húi ở ngoài vườn, chiết chiết, ghép ghép những mầm cây. Mấy đứa bạn gái cùng lớp đến chơi cứ gọi đùa Thăng là “nhà nông học”. Lụi hụi mấy năm trời, cây lớn, cây nhỏ đều không vừa ý Thăng, chỉ có mỗi cây hồng ươm ở đầu ngõ là còn sống. Thăng chăm cây hồng quá như bà mẹ chăm trẻ nhỏ. Ngày đi bộ đội, Thăng dặn:
- Bu chăm cho con cây hồng này đừng để nó chết. Nó không dễ trồng nhưng là giống quý lắm đấy bu ạ! Khi nào về, con sẽ chiết ghép nhân giống ra khắp vườn nhà mình. Sau này con sẽ làm giàu bằng nghề bán cây giống cho bu xem!
Thăng đi rồi, bà chăm chút cây hồng như chăm nó vậy. Bà hay nói chuyện với cây hồng đến nỗi cái Tầm con ông Đồng dưới xóm đến chơi cứ ngạc nhiên nhìn bà lo lắng. Tầm là bạn học với Thăng hồi cấp hai. Hình như cô cậu có tình ý với nhau nên từ dạo Thăng đi bộ đội, Tầm thường qua lại giúp bà từ việc nhà đến việc đồng áng, ngồi hàng giờ nghe bà kể chuyện về Thăng. Biết vậy, thư của Thăng gửi về, bà hay nhờ Tầm đọc, rồi bà lại đọc để Tầm viết thư cho Thăng. Bà để ý thấy lần nào đọc xong, Tầm cũng cất lá thư ấy vào một chỗ, thi thoảng lén đem ra đọc lại. Hôm nào Tầm không đến là bà nhớ. Nhà Tầm cũng chỉ có hai bố con. Bố Tầm ốm yếu, mấy năm nay chỉ quanh quẩn trong nhà. Một lần thư Thăng gửi về, bà lại đưa cho Tầm đọc. Đọc được vài câu đầu, tự nhiên bà thấy mặt Tầm đỏ ửng đến tận mang tai. Nó cứ lúng búng trong miệng không thành lời rồi đột nhiên dúi lá thư vào tay bà và bỏ chạy làm bà phát hoảng. Bà vội vàng cầm sang nhà bên nhờ con Bé học lớp ba đọc hộ. Con Bé đọc được vài câu đầu, nó cũng dừng lại một tí rồi reo lên:
- Chú Thăng bảo hết đợt huấn luyện này sẽ về để bà cưới vợ cho chú ấy đấy bà ạ! Thế là cháu sắp được ăn cỗ rồi! Bà cho cháu đi đón cô dâu với bà nhé!
Bà cụ cũng sung sướng như con Bé:
- Ừ! Nhất định là cháu sẽ đi đón dâu cho bà rồi! Đọc kỹ lại cho bà nghe xem nào!
Con Bé đọc đi đọc lại hàng chục lần bà mới tin là không nghe nhầm. Thằng Thăng nhà bà mà lấy được con Tầm thì khỏi phải nói. Bà ưng con bé tự lâu rồi! Tuy chỉ học hết cấp hai nhưng Tầm tần tảo, hiền lành và hiếu đễ. Được nó làm dâu, bà chẳng mong gì hơn nữa! Thì ra, anh chị đã hò hẹn với nhau. Thảo nào đọc đến chỗ Thăng bảo được nghỉ phép về là cưới vợ, cô nàng cứ lúng búng.
Từ hôm ấy, chẳng những chăm chút cho cây hồng mà bà còn ra sức vỗ béo cho con lợn trong chuồng, mua thêm dăm con gà thả vào đàn gà nhà đang nuôi sẵn. Bà nghĩ, đám cưới sống mới, sống cũ gì cũng được, nhưng nhất định phải làm chục mâm mời họ. Bà những muốn làm đám cưới cho Thăng chẳng kém ai trong làng, trong họ để đỡ tủi phận con mất bố.
Đến mấy tuần sau, Tầm không dám sang lúc bà đang ở nhà. Khi bà về, nhà cửa lúc nào cũng sạch sẽ, cám bã lợn gà đã đâu vào đấy, rau ngoài vườn được tưới tắm, hái để sẵn trong rổ mai bà đi chợ. Tích chè xanh đã hãm. Nhiều khi về muộn, bà đã thấy cơm canh đậy lồng bàn đặt trên chõng tre. Bà cụ Thăng sung sướng biết mình đang có quả thị vàng. Cô Tấm của bà đang giấu mình têm trầu cánh phượng. Bà đếm từng ngày trên đốt ngón tay. Tất cả mọi thứ bà đã tính đâu vào đấy thì một chiều có tiếng trẻ con ngoài ngõ. Cái Bé đang ríu rít gọi bà. Bà lật đật chạy ra. Cái Bé khoe:
- Có thư chú Thăng bà ạ! Bà để cháu đọc cho bà nghe nhé!
Tai bà chợt ù đi, hai đầu gối run lẩy bẩy. Bà phải vịn vào vai con Bé. Con Bé vô tư giơ bức thư lên ngắm nghía. Nó nói như reo:
- Bên trong như là có ảnh nữa ấy bà ạ!
Con Bé quay lại nhìn bà. Nó kêu lên:
- Bà ơi! Sao tay bà run thế? Để cháu dắt bà vào nhà nhé!
Đến thềm, hai bà cháu cùng ngồi xuống. Bé đưa phong thư cho bà:
- Bà bóc ra đi để cháu đọc.
Loay hoay mãi bà mới bóc được phong bì. Trong ấy có hai tấm ảnh của Thăng cỡ to bằng bàn tay. Trong ảnh, Thăng mặc quân phục, đội mũ đeo sao, rõ ra dáng lắm! Cái miệng nó cười như muốn chuộc lỗi với bà. Bà hồi hộp nghe con Bé đọc thư. Trong thư Thăng nói chưa thể về được vì đơn vị có lệnh hành quân gấp. Nó dặn bà cố nuôi con lợn cho béo thêm tý nữa. Vào trong ấy, đánh thắng vài trận là nó có thể yên tâm về cưới vợ. Biết nó tếu mà bà chẳng thể cười được. Bà phát ốm. Bà nằm hàng tuần không dậy. Tầm như con thoi đi lại hai nhà chăm sóc hai người già ốm. Bà biết ăn nói làm sao với bố Tầm, với Tầm bây giờ? Một buổi sáng, bố Tầm bắt con đưa sang nhà bà cụ Thăng. Vốn là người mộc mạc, chả rào trước đón sau gì, ông nói:
- Thôi, bà chớ có buồn phiền lo nghĩ nhiều. Thời buổi chiến tranh, anh ấy chưa về được bây giờ cũng là cái nhẽ thường. Chúng chả cưới được bây giờ thì mai ngày về cưới cũng chả muộn. Với tôi thì một nhời là ngãi. Con trẻ đã có lòng thương nhau thì xin bà cứ coi cháu Tầm đây là dâu con trong nhà vậy. Bà có nhận nhời, tôi mới yên tâm.
Ông chỉ nói được có thế rồi từ tạ ra về. Bà cụ Thăng rưng rưng nhìn theo hai cha con Tầm dắt nhau đi khuất sau giậu cúc tần.
Sau khi bố mất, Tầm đi về với bà cụ Thăng nhiều hơn. Dạo này Tầm tham gia công tác đoàn thể của xã nên bận tối ngày, Hết việc đồng áng lại việc xã, rảnh lúc nào lại sang quấn quýt với mẹ Thăng. Hết năm này sang năm khác, bà cụ ngày một già thêm mà vẫn chưa thấy Thăng về, thư từ lâu rồi cũng không có. Trên muốn cử Tầm đi học để sau này về huyện công tác. Tầm không đi. Bà biết, Tầm ở lại vì bà. Bà giục mấy lần, Tầm chỉ cười trừ. Ngủ lại với bà, Tầm thường mang báo về đọc cho bà nghe những tin chiến thắng từ các mặt trận để bà mừng. Bà giật mình khi thấy Tầm đã có nhiều vết rạn chân chim nơi đuôi mắt. Búi tóc to nặng sau gáy cứ ngày một nhỏ đi làm lòng bà se sắt. Lợn trong chuồng cứ nuôi hết lứa này đến lứa khác mà bà với Tầm chẳng ai dám nhắc đến ngày về của Thăng. Khi nhận được tin Thăng chẳng bao giờ về được nữa thì người suy sụp chính là Tầm. Tầm câm lặng hàng tháng trời. Bà cụ Thăng lại lụm cụm đi về với Tầm, chăm sóc thí dỗ Tầm như dỗ trẻ con. Nhiều lần, bà thấy Tầm ngồi trong buồng ngắm mãi cái áo cổ bẻ, màu trứng sáo còn mới nguyên, không hiểu sao lại mất một cái cúc ở ngực áo mà nó không đơm lại.
Một lần vào dịp 27 tháng 7, Tầm cùng đoàn cán bộ xã đi thăm anh em thương binh nặng ở trại điều dưỡng. Khi về, Tầm mừng rỡ kể cho bà nghe là đã tìm thấy An, cháu gọi bà bằng dì. An bị thương hỏng cả hai mắt. Nó đã im hơi bặt tiếng để cho người yêu đi lấy chồng. Con bé ấy cũng là người tốt nết. Hai bên gia đình ép mãi nó mới chịu nhận trầu cau nơi khác. Nó cưới được một năm thì mẹ An qua đời. Chắc con Tầm sợ như thế nên nhất quyết không chịu bỏ bà ở nhà để đi lấy chồng. Bà nghe Tầm kể về An với giọng đầy thương cảm. Tuần sau, bà bảo Tầm đưa bà đến trại an dưỡng thăm An. Bà không cầm lòng được khi An cứ đưa hai tay rờ rẫm lên mặt bà mà xuýt xoa:
- Thật là dì của con rồi! Con vẫn hình dung ra dì như thế này. Dì giống hệt mẹ con. Hồi xưa, hai anh em chờ mẹ con và dì đi chợ huyện ghé qua chỗ chúng con trọ học, thằng Thăng bao giờ cũng bảo: Khéo có anh em mình nhận nhầm mẹ của nhau!
Nhìn nó cười mà lòng bà quặn thắt. An nắm chặt tay Tầm:
- Anh cảm ơn Tầm nhiều lắm! Em đã cho anh được gặp dì. Thế là anh lại muốn sống rồi, Tầm ạ!
Nhìn bàn tay hai đứa xiết chặt, trong đầu bà cụ Thăng chợt nảy ra một ý. Sau này, bà tìm cách cho Tầm đến với An nhiều hơn. Bà nhờ cậy mà như buộc Tầm phải thay bà thăm nom, săn sóc An. Bà thừa biết, An chẳng lạ gì chuyện giữa Thăng với Tầm. Và bà thấy, dường như Tầm đi thăm An cũng là sự tự nguyện. Bà hy vọng, rồi chúng sẽ như bà mong muốn và bà ngấm ngầm sắp đặt mọi việc. Hình như Tầm biết ý nên dù ân cần với An, bà cụ thấy nó vẫn giữ khoảng cách. Nhưng vì con, vì cháu nhẽ nào bà chịu thua!
Gần đây bà cụ thấy mình yếu nhiều. Lắm lúc nằm trong nhà nhìn ra bà thấy tán lá của cây hồng giống hệt hình người đang lom khom cuốc xới, cái đầu thi thoảng lại ngẩng lên hất mái tóc xõa xuống mặt giống y như Thăng. Rõ ràng nó còn cúi về phía bà. Bà cụ bàng hoàng chống tay ngồi dậy nhìn kỹ. Khi hồng chín, bà cụ chọn những quả thật ngon để Tầm mang lên trại điều dưỡng cho An. Bà lại ngồi dưới gốc cây bên cạnh để một bị đầy những quả hồng mòng. Bà chờ lũ trẻ đi học về để chia cho mỗi đứa một quả.
Cuộc họp Đảng uỷ xã mở rộng bàn về việc thực hiện cuộc vận động đón người thân là thương binh nặng về chung sống với gia đình, Tầm được cử làm phó ban thường trực mãi đến trưa mới xong. Tầm vội đạp xe lên thị xã. Nhận bức điện của người đàn bà xa lạ từ Nam bộ gửi ra, chị tin là anh ấy thật. Chị chọn tấm ảnh của Thăng hồi còn đi học. Với chị, tấm ảnh ấy giống Thăng hơn cả. Tầm giấu chưa dám nói với mẹ Thăng về bức điện, nhỡ đâu không phải đấy là anh. Chị đem bức ảnh ra bưu điện gửi theo thư chuyển phát nhanh. Kèm theo bức ảnh, chị ghi tất cả những điều cần thiết vào một tờ giấy. Lời trong bức điện của người đàn bà kia quá ngắn nhưng cũng đủ để cho chị day dứt một nỗi buồn. Đã lâu lắm rồi, bây giờ khi đọc bức điện chị mới lại rấm rứt khóc.
Một buổi, Tầm đang chuẩn bị bữa cơm trưa ở nhà mẹ Thăng thì có hai người đi vào ngõ. Chị giật bắn người khi nhận ra người trai trẻ đi trước chính là Thăng. Thăng của hơn hai chục năm về trước khi còn là học trò trường huyện. Theo sau là người đàn bà đã luống tuổi mặc bộ đồ bà ba đen. Linh tính báo cho chị biết những người ấy là ai. Một phút sững sờ, chị vội đi ra đứng cạnh mẹ Thăng để đón khách. Chưa ai kịp nói gì bà cụ đã vứt cây gậy sang bên, nhanh nhẹn khác thường bước vội lên phía trước, sung sướng gọi:
- Thăng đã về đấy như, con!
Tức thì cả ngần ấy cánh tay đưa ra đỡ lấy bà cụ. Cậu con trai lễ phép:
- Thưa nội…
Bà cụ sững lại, một chốc mới quờ tay ra đằng sau tìm cây gậy chống rồi nặng nhọc bảo Tầm:
- Mời khách vào trong nhà đi con!
Cậu con trai đỡ bà cụ đi vào. Tầm và người đàn bà lạ lặng lẽ theo sau. Tầm đối đãi với hai người khách như đã quen từ trước. Bây giờ, Tầm mới nói chuyện về những người khách với mẹ Thăng. Bà cụ mừng như được đón con mình về vậy. Linh cảm huyết thống đã làm bà cụ thấy gần gũi ngay với hai người khách mới đến. Bà cụ cứ chăm chắm nhìn cậu con trai vừa sửng sốt vừa mừng rỡ:
- Cháu giống thằng Thăng nhà bà y như hai giọt nước!
Người đàn bà hoảng hốt vội kéo cậu con trai cùng quỳ xuống trước mặt bà cụ, bật khóc:
- Mẹ ơi! Đây là con trai anh Thăng! Con có lỗi. Xin mẹ và chị …
Tầm chết lặng. Bà cụ cũng sững người không thể thốt nên lời. Tầm sợ bà cụ bị sốc, chị gạt vội giọt nước mắt vừa ứa ra và cúi xuống đỡ hai mẹ con người khách đứng lên. Không đắn đo nhiều, bà cụ kéo cậu con trai ngồi sát vào bên cạnh tỏ ý chấp nhận. Cậu vòng tay ôm lấy bà cụ, âu yếm ghé sát tai bà, gọi khẽ:
- Nội…
Vẻ khó xử trên gương mặt người đàn bà lạ dần dần biến đi nhường cho vẻ ngượng ngùng rất Nam bộ. Bà cụ Thăng vui như trẻ nhỏ được quà. Cụ cứ nắm chặt lấy hai bàn tay cậu con trai và sung sướng ngắm nghía gương mặt cậu. Những lời nói, cử chỉ của bà cụ và hai người khách như cật nứa cứa vào lòng vị kỷ của Tầm. Bàn tay vô hình của tạo hoá vần vò trái tim tưởng đã khô héo của Tầm như một thứ đồ chơi. Tầm cố nén nỗi đau không để lộ ra trên gương mặt. Nỗi vui mừng của bà cụ đã làm cho câu chuyện giữa mọi người thân mật, ấm áp hơn và làm dịu đi những tia buồn chợt loé lên trong mắt Tầm. Tầm ra chợ mua về khá nhiều thứ. Hai người đàn bà cùng nấu một bữa cơm. Tầm nhìn người đàn bà lóng ngóng đến tội nghiệp. Vừa làm, chị vừa chỉ cho người đàn bà ấy cách nấu mấy món ăn ngoài Bắc. Chị cố làm cho người đàn bà lạ không còn cảm thấy mình là khách và người đàn bà ấy đã có vẻ cởi mở, tự tin hơn.
Cơm nước xong, Tầm thu xếp chỗ nghỉ cho hai mẹ con người đàn bà, ép bà cụ uống vài viên thuốc bổ, dặn dò đôi điều về những thứ đã chuẩn bị sẵn cho vài ngày sau. Chị thưa với bà cụ mình phải đi tập huấn ít ngày trên tỉnh. Mải quấn quýt với thằng cháu nên mãi đến khi chị dắt xe ra tận ngõ bà cụ mới dặn với theo:
- Chong chóng mà về con nhá!
Tầm chẳng đi đâu mà dạp xe về thẳng nhà mình. Quẳng cái xe đạp vào một xó. Chị đổ vật ra giường. Chị chẳng để ý đến mùi gường chiếu đã lâu không có người nằm và cả căn nhà bốc hơi ngai ngái, hăng hắc. Chị vật vã trong nỗi đau khô cạn, những giọt nước mắt không ra đến bờ mi. Chưa bao giờ Tầm có ý thức bị mất mát như lúc này. Tình yêu của chị lắng xuống quá lâu rồi, chỉ còn như hòn than âm ỉ trong đống tro ký ức mà bấy lâu nay chị vẫn coi như báu vật. Bây giờ, với sự hiện diện của cậu con trai giống Thăng như đúc, chị thấy mình mất hết. Chị oán giận chính mình. Sao Thăng đã hẹn về cưới nhau rồi cứ để chị phải mỏi mòn trông đợi. Sao cái đêm ở vườn dâu năm ấy chị lại quá giữ gìn với Thăng để làm gì? Chiến tranh khốc liệt, người ra đi biết có ngày trở lại? Sao chị còn giữ gìn làm chi sự chính chuyên hão huyền vô lối? Cái áo chị mặc hôm ấy lúc nào cũng sạch sẽ, thơm tho treo trên mắc. Dù biết hàng cúc áo đã bị đứt mất một chiếc nhưng chị cũng không đơm lại. Tầm định sẽ mặc nó trong đêm tân hôn để dành cho Thăng một sự thú vị nho nhỏ. Gần cả cuộc đời chị đã không nghĩ đến người đàn ông khác. Chị ghê sợ sự động chạm với họ ngay cả lúc vô tình. Tình yêu Thăng gắn chặt đời chị với người mẹ già chịu nhiều mất mát. Hai người đàn bà nương vào nhau chệnh choạng bước trên quãng đường đời lầm lụi. Vậy mà giờ đây, một người đàn bà xa lạ dẫn đứa con trai về nhận mẹ chồng, bà nội! Chị thấy mình trở nên thừa thãi giữa họ. Nhìn lên bức ảnh, Tầm thấy nụ cười trên môi anh đầy ẩn ý... Tầm lả đi trong tiếng dế nỉ non, ai oán.
Dưới ánh trăng suông, Bảy Thơm tìm đến ngôi nhà nhỏ nép vào bóng tre. Cửa khép hờ, trong nhà im ắng quá. Bảy Thơm ghé mắt nhìn qua khe cửa. Trong nhà một giọng nói yếu ớt vọng ra:
- Anh chỉ là kẻ phản bội!
Bảy Thơm đẩy cửa bước vào. Ánh trăng đổ một vệt dài qua ô cửa mở. Chị lặng lẽ ngồi bên Tầm trong khoảng không gian sực nức mùi vị của sự lãng quên. Tầm mệt mỏi ngồi dậy. Bảy Thơm nâng bàn tay Tầm lạnh giá, sần sận những vết chai và giữ trong tay mình.
- Em mới là người có lỗi. Em biết anh ấy chẳng yêu em. Em đã chiếm anh ấy của chị. Khi đó em có nghĩ được điều gì xa quá tầm tay, chỉ thấy rằng em yêu anh ấy, thèm muốn có được anh ấy. Tối nào bọn em cũng ra đi với súng đạn đầy mình. Em đã chứng kiến pháo giặc nổ banh xác đồng đội ngay trước mắt… Em sợ đến một lúc nào đó em cũng bị như vậy. Thế là em tìm đến với anh ấy, làm cho anh ấy phải cho điều em muốn. Sau đó em yên tâm ra đi với công việc của mình. Em đã chẳng bao giờ gặp lại anh. Đến quê anh em cũng không biết ở đâu. Em sẽ bị dằn vặt suốt đời nếu em không đưa được anh ấy và con về quê cha đất tổ và không được thú nhận cùng chị. Anh gửi cho em kỷ vật này đựng trong cái túi nhỏ. Em giữ nó suốt ngần ấy năm trời. Bây giờ nó phải thuộc về chị.
Bảy Thơm cởi chiếc dây chuyền đeo ở cổ ra để trong lòng bàn tay. Trong ánh sáng nhạt nhoà của trời rạng, Bảy Thơm cẩn thận mở hình trái tim ở dây chuyền rồi đặt tất cả vào tay Tầm. Tầm lặng người khi thấy trong hình trái tim một cái cúc trai nhỏ lóng lánh xà cừ. Nhìn kỹ trên mặt cúc, Tầm thấy một chấm đen nhỏ xíu. Lấy đầu ngón tay trỏ khẽ miết lên cái chấm đen đó, Tầm thấy nó không mất đi mà lan rộng ra, bồng bềnh như mái tóc, dưới mái tóc dần hiện lên một gương mặt và nụ cười quá quen thuộc. Tầm thấy lạnh toát cả người. Chị ấp cái cúc vào lòng bàn tay một lúc lâu mới mở ra nhìn lại. Cái cúc chỉ còn là mảnh vỏ trai nhỏ xíu lóng lánh xà cừ ngũ sắc. Tầm đứng dậy lấy cái áo cổ bẻ màu trứng sáo treo trên mắc xuống vuốt phẳng. Chị đặt cái cúc vào chỗ của nó. Cả bốn chiếc cúc y hệt như nhau. Hai người đàn bà nhìn nhau im lặng.
Bên ngoài trời đã rạng sáng. Những chú chim sâu lách chách chuyền cành. Có tiếng chân bước lập cập và tiếng gậy tre ngoài cửa kéo hai người đàn bà cùng dứt mình ra khỏi ký ức. Bà cụ Thăng ngồi thụp xuống trước mặt hai người thở hắt ra như vừa trút được một gánh nặng. Tiếng bà cụ lào thào như tiếng gió:
- Chẳng ai hiểu con bằng bu đâu Tầm ạ! Con đừng nghĩ dại. Con có làm sao thì bu sống với ai?
Tầm cúi đầu. Chị khe khẽ trút một hơi thở thật dài. Bên hàng xóm gà nhà ai bây giờ mới gáy. Tiếng chày thậm thịch đâu đây. Thoảng trong không gian có hương thơm của cốm đầu mùa. Vừng đông ló rạng soi lên nền trời những tia nắng hình rẻ quạt.