Rồi anh sẽ về
Kính tặng đại đội trưởng Vũ Huy Thục
Nguyễn Công Loan
Tiếng súng thưa dần trong bốt giặc
Sáng ra chẳng thấy anh về
Sông Sở Hạ nước lên ngầu đục
Bè lục bình ngơ ngác đứng trong mưa.
Anh mất rồi sao hỡi người anh yêu quý
Trong tiếng súng rền đánh giặc đêm nay
Tin đau đến trái tim như ngừng đập
Những đôi mắt hiền nhòa lệ buồn thay.
1 giờ 45 súng nổ
Các mũi xông lên như lốc cuốn trong đồn
Bộc phá nổ, nhà thông tin tan nát
Tiếng anh chìm trong tiếng đại liên
Anh ra lệnh: B40 phụt lửa…
Lệnh chưa dứt câu anh ngã xuống rồi
Anh ngã xuống bên hàng rào dây thép
Mà trên môi như thoáng nở nụ cười.
19-4-1974
Tìm bạn
Nguyễn Công Loan
Xe ngược cao nguyên đá
Vượt cổng trời đi lên
Núi chắn mây che lối
Đường đi mờ xa dần
Qua trăm cua tay áo
Ngàn vách đá bên đường
Tiếng xe gằn trong gió
Giữa núi rừng biên cương
Tôi phóng xa tầm mắt
Tìm bạn nằm nơi nào
Chỉ thấy cây với lá
Cùng bầy ong lao xao
Tôi gọi khan trong ngực
Chẳng thấy bạn trả lời
Lòng dặn lòng đừng khóc
Sao nước mắt cứ rơi
Tìm bạn không gặp bạn
Trời đã sắp tối rồi
Bản xa hồng ánh lửa
Làm ấm lại lòng tôi.
Bài thơ viết từ 43 năm trước
Người cựu chiến binh mà bạn đọc thành phố Hồ Chí Minh đề cập tên là Nguyễn Công Loan hiện đang sống tại số nhà 60 lô 3E khu đô thị mới ngã 5 sân bay Cát Bi, Hải Phòng. Những chia sẻ về bối cảnh sáng tác bài thơ “Rồi anh sẽ về” cách đây 43 năm được bạn ông lưu giữ lại và cung cấp tới Báo Hải Phòng như những thước phim tư liệu còn nóng hổi:
“1 giờ 45 phút ngày 19-4-1974, C25 đặc công dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Vũ Huy Thục (quê xã Đồng Tiến, huyện Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh) nổ súng đánh bốt Gò Bói (tỉnh Kiến Phong cũ, nay là tỉnh Đồng Tháp). Khi vượt qua hàng rào cuối cùng, đại đội trưởng Vũ Huy Thục anh dũng hy sinh. Lúc ngã xuống bên hàng rào, khẩu K54 anh dùng dây khoác chéo qua người vẫn ở bên anh. Chiếc đồng hồ hiệu Ô-mê-ga do Chính ủy Trung đoàn Lê Chư trao trước lúc vào trận để chỉ huy chiến đấu vẫn trên tay anh. Đơn vị hoàn thành nhiệm vụ nhưng chúng tôi mất anh. Nhớ lại khi ở với chúng tôi, anh có ước muốn là khi hoàn thành nhiệm vụ, đất nước thống nhất anh sẽ về quê làm người thợ mỏ. Thương tiếc anh, tự nhiên trong tôi bật lên suy nghĩ như lời khẳng định, rồi anh sẽ về. Và tôi viết bài thơ ngay sau trận đánh trên chiếc xuồng chở thương binh. Lời thơ còn thô mộc, ngôn từ chưa trau chuốt nhưng thật từng chi tiết. Tôi giữ nguyên bản bài thơ, không sửa từ nào như nén hương tưởng nhớ anh, người Đại đội trưởng yêu quý của cán bộ, chiến sĩ C25, E207”.
43 năm sau ngày bài thơ được cựu chiến binh Nguyễn Công Loan sáng tác cũng là ngần ấy năm đại đội trưởng Vũ Huy Thục anh dũng trở về với đất mẹ. 43 năm sau, đọc lại bài thơ vẫn thấy cay mắt như đang chứng kiến phút giây hy sinh của người đại đội trưởng anh hùng để góp phần viết nên bài ca thống nhất của dân tộc.
Bài thơ thứ hai…
Bài thơ thứ hai kèm theo bức thư mà bạn của cựu chiến binh Nguyễn Công Loan gửi tới Báo Hải Phòng có tựa đề “Tìm bạn”. Bài thơ được tác giả sáng tác vào tháng 3-2016 trong đợt đi tìm mộ liệt sĩ hy sinh trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tại Hà Giang.
2 bài thơ viết cách nhau 42 năm, nhưng chung cảm xúc của người lính với các đồng đội của mình. Từng câu thơ của cựu chiến binh Nguyễn Công Loan như tô đậm thêm tình đồng đội của những người lính cùng nhau vượt đạn bom khói lửa để góp phần giành lại độc lập, tự do của dân tộc.
Nhân dịp kỷ niệm 72 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, Hải Phòng cuối tuần trân trọng giới thiệu tới bạn đọc 2 bài thơ thắm tình đồng đội của tác giả Nguyễn Công Loan.
Linh Phong