Hàng trăm tác phẩm để đời
![]()
Nhà soạn nhạc Ennio Morricone - Tượng đài âm nhạc người Italy qua đời ngày 6-7-2020 tại Rome.
Trước khi qua đời tại Rome, Italy ngày 6-7-2020, nhà soạn nhạc Ennio Morricone từng chắp bút hơn 500 tác phẩm để đời. Trong đó, đặc biệt gây tiếng vang là những bản nhạc phim dành cho nhiều bộ phim điện ảnh và truyền hình bất hủ từ thế kỷ 20. Bản nhạc “Overture” (phim “The hateful eight”), “Gabriel's oboe” (phim “The mission”), “Childhood memories” (phim “Once upon a time in America”)… quen thuộc với công chúng yêu điện ảnh, nhất là dòng phim cao bồi miền Tây mang phong cách Italy. Âm nhạc của Morricone mang đậm chất cổ điển đầy kỹ thuật, pha trộn chút phóng khoáng của jazz, và sự táo bạo đặc trưng của dòng nhạc avant-garde. Tính chất này giúp nhạc của ông phù hợp với không chỉ dòng phim viễn Tây mà còn được sử dụng trong nhiều thể loại phim từ kinh dị, hành động đến tâm lý… Thứ âm nhạc kỳ diệu ấy mang về cho Morricone nhiều giải thưởng, trong đó có giải Oscar dành cho Nhạc phim xuất sắc năm 2016.
Theo nhận xét của Thủ tướng Italy Giuseppe Conte, âm nhạc của Morricone khiến chúng ta mơ mộng, cảm xúc, suy tư, và những nốt nhạc sẽ không bao giờ bị xóa nhòa trong lịch sử âm nhạc và điện ảnh. Các tác phẩm của Morricone sống mãi trong chiều dài dòng chảy phát triển của điện ảnh, góp phần ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều nghệ sĩ thế hệ sau. Điển hình, nhạc sĩ huyền thoại Hans Zimmer – người từng giành vô số giải thưởng lớn về nhạc phim, khẳng định Morricone là nguồn cảm hứng lớn góp phần định hình phong cách âm nhạc Hans Zimmer. Không chỉ tác động tới giới nhạc sĩ viết nhạc phim, di sản âm nhạc Morricone còn là chất liệu để nhiều nghệ sĩ âm nhạc ở các thể loại rock, hip-hop, heavy metal và electronica như Jay-Z, Muse, Massive Attack… khai thác.
Âm nhạc thổi hồn phim ảnh
Theo tờ Independent, tài năng Morricone nằm ở khả năng viết những bản nhạc giúp soi sáng bộ phim ở một góc kỳ lạ. Đây cũng chính là đích đến cuối của âm nhạc trong phim – điều mà những nhạc sĩ như Morricone khao khát thực hiện và đã, đang thực hiện rất thành công. Sự soi sáng ấy thể hiện ở những chi tiết âm thanh như tiếng vó ngựa, tiếng súng, tiếng cát, tiếng gió… điểm xuyết để khung hình thêm sinh động. Ngoài ra, âm nhạc trong phim giúp truyền tải đến người xem những góc nhìn sâu sắc hơn về cảnh phim thông qua âm thanh. Dĩ nhiên Morricone là đại tài trong thủ thuật này, như với phim “The mission” lấy bối cảnh rừng nhiệt đới ở Brazil, ông sử dụng tiếng kèn dân tộc của người bản địa cùng nhạc cụ châu Âu để làm rõ xung đột giữa hai nền văn hóa. Tương tự, nhà soạn nhạc thiên tài Hans Zimmer gây ấn tượng mạnh trong phần âm nhạc của phim “Interstellar” khi kết hợp dàn giao hưởng thể hiện khúc nhạc hùng tráng trong phân cảnh đáp tàu vũ trụ đầy căng thẳng, ăn khớp từng nhịp chuyển động của cảnh phim, giúp những thước phim in đậm trong tâm lý người xem.
Hiệu quả của âm nhạc trong việc hỗ trợ nâng tầm phim ảnh là điều không thể chối cãi. Nhưng theo nhà soạn nhạc Bernard Herrmann, điều quan trọng hơn cả là, âm nhạc đóng vai trò “trợ thủ” đắc lực của đạo diễn trong định hướng cảm xúc công chúng khi chìm đắm trong không gian của cảnh phim. Từ các đoạn nhạc nhanh dồn dập tạo cảm giác kịch tính, đến những nốt nhạc du dương làm dịu và thả lỏng cảm xúc, đưa người xem vào chuyến phiêu lưu cùng với các nhân vật.
Thu Thảo tổng hợp