(Tóm tắt dự thảo đề án của UBND thành phố trình kỳ họp thứ 6 HĐND thành phố khóa 15)
![]() |
Hải Phòng quy hoạch phát triển mạng lưới cửa hàng chuyên kinh doanh LPG, trạm cấp LPG, trạm nạp LPG vào ô tô, trạm nạp LPG vào chai, kho LPG với tổng dung tích các bồn chứa dưới 5.000 m3 trên địa bàn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Ảnh: Trung Kiên |
Hải Phòng là thành phố công nghiệp, đô thị loại 1 của đất nước, một cực tăng trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc, một trọng điểm phát triển kinh tế biển - đảo; có vị trí trọng yếu cả về kinh tế và quốc phòng - an ninh.
Giai đoạn 2011 - 2016, công nghiệp tiếp tục phát triển về quy mô, duy trì tốc độ tăng trưởng khá. Cơ cấu các ngành công nghiệp chuyển dịch theo hướng hợp lý, hiện đại hóa, thu hút được các dự án sản xuất có quy mô lớn, có hàm lượng công nghệ cao. Kết cấu hạ tầng cho phát triển công nghiệp được chú trọng đầu tư. Hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại được nâng cấp và phát triển nhanh theo hướng văn minh, hiện đại, đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của người dân thành phố và các vùng phụ cận. Lực lượng làm thương mại triển nhanh về số lượng, từng bước nâng chất lượng, với sự tham gia của các thành phần kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài với phương thức kinh doanh đa dạng, linh hoạt. Công tác quản lý nhà nước về thương mại được đổi mới, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, ngành công nghiệp và thương mại còn một số hạn chế: chủ yếu vẫn là đóng góp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu vẫn chủ yếu dựa trên nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu là chính; công nghiệp hỗ trợ còn chậm phát triển. Chất lượng lao động mặc dù đã có chuyển biến nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động. Sản xuất công nghiệp còn tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Trong khi đó, hoạt động thương mại, xuất khẩu chưa khai thác hết lợi thế thành phố, còn nhiều hạn chế và phát triển chưa đều giữa các địa bàn, khu vực. Lực lượng doanh nghiệp hoạt động thương mại phần lớn quy mô vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính yếu. Các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động thương mại phát triển chưa đồng bộ với yêu cầu phát triển nhanh theo hướng văn minh, hiện đại. Công tác quản lý nhà nước và điều hành thị trường hàng hoá còn nhiều hạn chế, nhất là công tác quy hoạch, quản lý thực hiện quy hoạch, thị trường, giá cả, chất lượng hàng hóa…
Từ những mục đích, yêu cầu nêu trên, việc xây dựng Đề án Nhiệm vụ, giải pháp phát triển công nghiệp và thương mại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2017 – 2020, định hướng đến năm 2030 là thực sự cần thiết, góp phần xây dựng Hải Phòng thành thành phố Cảng xanh, văn minh, hiện đại, phát triển bền vững.
1. Về sản xuất công nghiệp
- Giai đoạn 2011 - 2016, công nghiệp tiếp tục phát triển về quy mô, duy trì tốc độ tăng trưởng khá, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2016 gấp 1,67 lần năm 2011, đứng thứ 8 trong 63 tỉnh thành phố cả nước, đứng thứ 3 trong vùng đồng bằng sông Hồng (sau Bắc Ninh, Hà Nội); chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp đứng thứ 3 cả nước (sau Quảng Nam, Thái Nguyên), đứng thứ 2 ở khu vực miền Bắc.
- Tốc độ tăng trưởng GRDP công nghiệp cao hơn tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất công nghiệp 1,46%. GRDP công nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong GRDP toàn thành phố, từ 30,5% năm 2011 tăng lên 36% năm 2016.
- Cơ cấu các ngành công nghiệp chuyển dịch theo hướng hợp lý, hiện đại hóa. Các ngành công nghiệp thuộc lĩnh vực công nghệ cao và ứng dụng công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao có sự phát triển mạnh mẽ và ngày càng chiếm tỷ trọng cao. Cơ cấu này phản ánh sự chuyển dịch ngành công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, vừa bảo đảm phát triển công nghiệp chủ lực có tỷ trọng cao vừa phát triển đa dạng ngành nghề, sản phẩm để linh hoạt trước biến động thị trường, hướng tới phát triển bền vững.
- Công nghiệp thành phố thu hút được các dự án sản xuất công nghiệp có quy mô lớn, có hàm lượng công nghệ cao đóng góp tích cực trong tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và thu hút lao động như các dự án sản xuất chi tiết, linh phụ kiện của máy phát điện gió (Công ty TNHH GE Việt Nam); máy điều hòa nhiệt độ, máy giặt, máy hút bụi, ti vi, điện thoại thông minh, thiết bị nghe nhìn ô tô (Công ty LG Electronics); máy in, laser, máy photocopy điện tử KTS, máy đa chức năng (Công ty TNHH Fuji Xerox Hải Phòng), lốp xe (Công ty TNHH Bridgestone), màn hình, các sản phẩm màn hình LCD và OLED cho các loại thiết bị điện tử (Công ty LG Display)…
- Kết cấu hạ tầng cho phát triển công nghiệp được chú trọng đầu tư. Các khu công nghiệp, khu kinh tế của Hải Phòng thu hút được một số dự án quy mô lớn về vốn đầu tư, sử dụng công nghệ tiên tiến, sản phẩm có giá trị gia tăng cao, nằm trong chuỗi sản phẩm toàn cầu của các tập đoàn, công ty xuyên quốc gia đứng trong nhóm 500 công ty có thương hiệu hàng đầu thế giới.
- Lao động có tay nghề tăng về số lượng và chất lượng, có sự phối kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong việc đào tạo lao động, dần đáp ứng nhu cầu của xã hội. Thị trường lao động đã hình thành, từng bước phát triển thành cầu nối giữa cung và cầu lao động.
- Các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp thành phố hỗ trợ cho việc tiếp thu các công nghệ chuyển giao từ nước ngoài thông qua các đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm. Trình độ công nghệ trong sản xuất công nghiệp đã được nâng lên, góp phần nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa chủ yếu. Nhiều thiết bị, công nghệ được đầu tư chủ yếu có xuất xứ từ các nước phát triển, tỷ lệ thiết bị điều khiển tự động và bán tự động ngày càng tăng.
2. Về hoạt động thương mại
- Giai đoạn 2011- 2016, hoạt động thương mại trên địa bàn thành phố phát triển khá toàn diện. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ liên tục tăng qua các năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ giai đoạn 2011-2016 tăng bình quân là 15,48%, cao hơn bình quân chung của cả nước (13,41%) của vùng đồng bằng sông Hồng (13,82%), của Hà Nội l (12,48%), của thành phố Hồ Chí Minh (9,48%); tuy nhiên lại thấp hơn một số tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng như: Nam Định (16,88%), Hải Dương (20,95%).
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đến năm 2016 đạt 91.192 tỷ đồng (đứng thứ 2 khu vực vùng đồng bằng sông Hồng và đứng thứ 6 cả nước).
- Hệ thống cơ sở hạ tầng thương mại được nâng cấp và phát triển nhanh theo hướng văn minh, hiện đại, đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng, mua sắm của người dân thành phố và các vùng phụ cận. Trong giai đoạn này, số lượng chợ trên địa bàn thành phố tăng 7,69% so với giai đoạn 2006-2010; số lượng trung tâm thương mại tăng 42,8%, siêu thị tăng 118% so với giai đoạn 2006-2010.
- Lực lượng làm thương mại phát triển nhanh về số lượng, từng bước nâng cao chất lượng, với sự tham gia của các thành phần kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài.
- Phương thức kinh doanh đa dạng, linh hoạt trên các địa bàn, cả trên biển, đảo. Thị trường nội địa phát triển đa dạng, có sự đổi mới về cơ cấu, thị trường khu vực nông nghiệp, nông thôn từng bước được quan tâm. Thực hiện việc cung ứng hàng hoá ngày càng phong phú đa dạng, đáp ứng khá tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng.
- Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2016 đạt 5,161 tỷ USD, cao gấp 2,21 lần so với năm 2011, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 16,88% giai đoạn 2011-2016, số lượng thị trường xuất khẩu của Hải Phòng đến năm 2016 là 125 thị trường, kim ngạch xuất khẩu của Hải Phòng chiếm tỷ trọng 2,97% so với kim ngạch xuất khẩu cả nước. Cơ cấu nhóm, mặt hàng xuất khẩu chuyển dịch tích cực, tăng tỷ trọng các nhóm, mặt hàng đã qua chế biến, một số sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Thị trường nhập khẩu hướng vào các nước có công nghệ cao; cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển dịch tích cực, tăng tỷ trọng nhóm hàng công nghệ, máy móc, thiết bị, phụ tùng, nguyên liệu phục vụ sản xuất. Hải Phòng đã đóng góp tích cực vào việc kiềm chế nhập siêu ổn định kinh tế vĩ mô, cân đối thanh toán quốc tế trong hoạt động ngoại thương.
- Công tác quản lý nhà nước về thương mại được đổi mới, cơ bản đáp ứng yêu cầu; công tác cải cách hành chính, đào tạo nguồn nhân lực, kiểm tra, kiểm soát thị trường, công tác xúc tiến thương mại... được triển khai tích cực, thu được nhiều kết quả đáng khích lệ.
3.1. Tồn tại, hạn chế trong sản xuất công nghiệp:
- Quy mô công nghiệp tuy tăng trưởng khá cao nhưng chủ yếu vẫn là đóng góp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các ngành sản xuất có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp trong nước như sản xuất giày dép, chế biến thực phẩm, đóng tàu dây chuyền thiết bị ít được đầu tư, đổi mới.
- Ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu vẫn chủ yếu dựa trên nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu là chính; công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển.
- Tốc độ đổi mới và ứng dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất công nghiệp còn chậm. Kết cấu hạ tầng về công nghệ cao còn yếu, chưa có khu công nghiệp công nghệ cao.
- Chất lượng lao động mặc dù đã có chuyển biến nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động về tay nghề và các kỹ năng mềm như tác phong công nghiệp, khả năng làm việc theo tổ, nhóm.
- Sản xuất công nghiệp còn tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Còn tồn tại một số điểm nóng về môi trường chưa được giải quyết triệt để...
3.2. Tồn tại, hạn chế trong hoạt động thương mại:
- Hoạt động thương mại, xuất khẩu chưa khai thác hết lợi thế thành phố cảng, công nghiệp, cửa ngõ chính ra biển của miền Bắc, chưa thực sự trở thành trung tâm thương mại lớn của cả nước.
- Hạ tầng thương mại còn nhiều hạn chế, phát triển chưa đều giữa các địa bàn, khu vực. Trung tâm thương mại phát triển chậm; hệ thống chợ chưa được đầu tư cải tạo, nâng cấp đúng tầm, chậm được chuyển đổi mô hình. Chưa hình thành sàn giao dịch hàng hoá xuất nhập khẩu, các chợ đầu mối có vai trò vùng.
- Lực lượng doanh nghiệp hoạt động thương mại phần lớn quy mô vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính yếu, chưa nắm giữ hệ thống hạ tầng bán hàng phủ khắp thành phố và vươn ra các địa phương. Thiếu doanh nghiệp thương mại đủ năng lực đảm nhận vai trò nòng cốt trong điều tiết thị trường. Nhân lực thương mại còn chưa đáp ứng yêu cầu về nhiều mặt; trình độ chuyên môn, luật quốc tế, thương mại quốc tế, ngoại ngữ chưa đáp ứng yêu cầu. Thiếu nhân lực am hiểu thị trường, hàng hoá.
- Tốc độ mở rộng thị trường xuất khẩu chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của thành phố. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu vẫn là gia công, giá trị gia tăng và hàm lượng chất xám, công nghệ cao trong sản phẩm. Chưa tạo ra được thêm nhiều sản phẩm xuất khẩu có giá trị kim ngạch lớn. Sản phẩm xuất khẩu có thương hiệu còn ít. Nông sản, thuỷ sản xuất khẩu chưa tạo lập được nguồn nguyên liệu ổn định.
- Các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động thương mại phát triển chưa thật đồng bộ với yêu cầu phát triển nhanh theo hướng văn minh, hiện đại.
4.1. Trong sản xuất công nghiệp:
4.1.1. Nguyên nhân khách quan:
- Do tác động của khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới và suy giảm sản xuất trong nước.
- Giá cả nguyên, nhiên vật liệu tạo giá trị gia tăng của các ngành sản xuất công nghiệp, tỷ giá ngoại tệ, lãi suất tín dụng biến động mạnh và áp lực cạnh tranh gay gắt đã gây khó khăn cho các nhà sản xuất và các dự án đầu tư.
- Xuất phát điểm về quy mô, trình độ công nghệ, trình độ quản lý và trình độ của đội ngũ công nhân lao động còn ở mức thấp. Hệ thống cơ chế chính sách để hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thiếu đồng bộ, thiếu cơ chế, chính sách đủ mạnh để hỗ trợ phát triển công nghiệp.
4.1.2. Nguyên nhân chủ quan:
- Công tác giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn; chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập. Đầu tư tài chính cho xây dựng hạ tầng ngoài hàng rào các khu, cụm công nghiệp còn hạn chế.
- Chậm ban hành các chính sách, cơ chế cụ thể, thiết thực nhằm hỗ trợ và khuyến khích đầu tư phát triển các nhóm ngành công nghiệp chủ lực, công nghiệp hỗ trợ, các sản phẩm có tính cạnh tranh...
- Các doanh nghiệp trong nước trên địa bàn phần lớn đều ở quy mô nhỏ, tiềm lực tài chính hạn chế; lực lượng lao động yếu cả về chuyên môn, khả năng sử dụng ngoại ngữ và ý thức tập thể; mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu. Rất ít doanh nghiệp trong nước đầu tư sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.
- Công tác lựa chọn nhà đầu tư hạ tầng, đôn đốc tiến độ thực hiện dự án đầu tư còn hạn chế, ảnh hưởng đến tốc độ thu hút đầu tư.
- Chưa hình thành nhu cầu tự thân của các doanh nghiệp và xã hội trong việc phát huy vai trò của khoa học và công nghệ. Đầu tư nguồn lực cho khoa học và công nghệ phục vụ phát triển ngành, doanh nghiệp chưa tương xứng.
- Chế tài xử phạt vi phạm về pháp luật môi trường còn nhẹ; chưa hình thành hệ thống trạm quan trắc môi trường tự động.
4.2. Trong hoạt động thương mại:
4.2.1. Nguyên nhân khách quan:
Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu làm cho tình hình kinh tế thế giới và khu vực có nhiều biến động khó lường; sự phát triển nhanh, mạnh về kinh tế, khoa học trên thế giới tác động, ảnh hưởng tới sự phát triển của nhiều ngành kinh tế dịch vụ của Hải Phòng. Quá trình hội nhập kinh tế thế giới tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi và những thách thức cho các doanh nghiệp trên địa bàn, nhất là trong các ngành, lĩnh vực kinh tế dịch vụ.
Các quy định của Nhà nước về phát triển thương mại ban hành chưa kịp thời; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách của Nhà nước về thương mại, xuất nhập khẩu chưa thật hoàn chỉnh và đồng bộ, thường xuyên thay đổi gây khó khăn trong triển khai thực hiện.
4.2.2. Nguyên nhân chủ quan:
Công tác quản lý nhà nước về thương mại còn hạn chế, sự phối hợp chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ; thiếu chủ động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển thương mại; công tác quy hoạch chậm, chất lượng quy hoạch thấp chưa theo kịp yêu cầu phát triển, nên thiếu công cụ quản lý.
Ngân sách thành phố dành cho phát triển thương mại còn hạn chế, chưa xây dựng được cơ chế quản lý, phân cấp phối hợp hoạt động giữa các sở, ban, ngành, địa phương trong quản lý nhà nước về giá cả, chất lượng hàng hóa và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Kết quả của hoạt động xúc tiến thương mại và đào tạo chưa cao, nhận thức và tư duy đổi mới còn hạn chế.
Một số chủ trương, chính sách của thành phố chưa đáp ứng kịp thời với sự phát triển thương mại, nhất là giai đoạn nền kinh tế đất nước đang trong tiến trình mở cửa, thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Ngành công nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng, là một trong những ngành chủ đạo trong các ngành kinh tế thành phố. Phát triển công nghiệp Hải Phòng với cơ cấu hợp lý theo ngành và lĩnh vực, khai thác triệt để các lợi thế sẵn có, chủ động tạo ra lợi thế của thành phố và tranh thủ tối đa các cơ hội để phát triển nhanh; tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất công nghiệp trong khu vực và thế giới. Chú trọng phát triển các ngành và sản phẩm công nghiệp chủ lực, thế mạnh của thành phố; đẩy mạnh phát triển các ngành và sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng cao, giá trị xuất khẩu lớn, ứng dụng công nghệ hiện đại, tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, đóng góp nhiều cho ngân sách; phát triển công nghiệp kết hợp với phát triển các ngành kinh tế khác trên địa bàn.
Đổi mới mô hình tăng trưởng, chú trọng phát triển theo chiều sâu, chuyển mạnh từ chủ yếu dựa vào xuất khẩu và vốn đầu tư sang phát triển đồng thời dựa cả vào vốn đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước; chủ động khai thác triệt để lợi thể cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng, tham gia có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu. Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế. Thực hiện có hiệu quả các FTA thế hệ mới, tham gia các điều ước quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư.
Thực hiện tái cơ cấu lại ngành công nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, tiếp tục duy trì và phát triển các ngành công nghiệp truyền thống có lợi thế; ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp mới, công nghiệp trọng điểm: (i) công nghiệp điện tử - tin học; (ii) các ngành sản xuất công nghiệp ứng dụng công nghệ cao; (iii) công nghiệp ô tô, cơ khí chế tạo máy móc thiết bị và công nghiệp; (iv) công nghiệp hóa chất – cao su nhựa; (v) công nghiệp hỗ trợ. Tiếp tục phát huy công suất và thực hiện đầu tư các giai đoạn tiếp theo của các dự án công nghiệp trọng điểm và các dự án đầu tư mới.
Bảo đảm yêu cầu phát triển công nghiệp theo hướng bền vững, không thu hút đầu tư những dự án gây ô nhiễm môi trường, công nghệ lạc hậu và giá trị gia tăng thấp; không thu hút các dự án đầu tư ngoài khu, cụm công nghiệp đã được quy hoạch. Tiếp tục khuyến khích và có kế hoạch di chuyển các nhà máy, cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm ra khỏi đô thị, khu dân cư để cải thiện môi trường sống.
Phát triển thương mại nội địa: Tập trung phát triển 3 nhóm thị trường: (i) thị trường thành phố; (ii) thị trường vùng Duyên hải Bắc bộ, vùng đồng bằng sông Hồng và miền Bắc; (iii) thị trường miền Trung, miền Nam. Phát triển đồng bộ hệ thống phân phối trên thị trường nội địa, sớm hình thành hệ thống doanh nghiệp thương mại đủ năng lực đảm nhận vai trò nòng cốt trong điều tiết thị trường. Củng cố mạng lưới thương mại từ cấp thành phố đến các xã và trên khắp các địa bàn từ thành thị đến nông thôn, biển, đảo, hình thành một thị trường thông suốt, thúc đẩy sản xuất phát triển và đáp ứng nhu cầu của nhân dân.
Xuất khẩu, nhập khẩu: Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giữ vững và phát triển các thị trường truyền thống như: EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga; đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng các thị trường tiềm năng như châu Mỹ, châu Phi, thị trường Trung cận Đông, Nam Á. Tích cực và chủ động tham gia vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; sản xuất, xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng cao, chế biến sâu, có hàm lượng công nghệ cao. Chú trọng nhập khẩu nhóm hàng máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ cao, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường phục vụ phát triển sản xuất. Hạn chế nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng (các hàng hoá, sản phẩm trong nước đã sản xuất được). Kết hợp chặt chẽ giữa nhập khẩu máy móc, thiết bị và chuyển giao công nghệ.
Phát triển kết cấu hạ tầng thương mại: Phát triển đồng bộ cả 4 nhóm kết cấu hạ tầng thương mại: hạ tầng xuất, nhập khẩu; hạ tầng bán buôn; hạ tầng bán lẻ và trung tâm hội chợ triển lãm thương mại. Phát triển kết cấu hạ tầng thương mại phục vụ liên vùng, như: trung tâm logistics, khu phi thuế quan, sàn giao dịch hàng hóa, trung tâm bán buôn, tổng kho đầu mối, chợ đầu mối…
Phát triển đội ngũ thương nhân: Phát triển nhanh các doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp phân phối lớn có phạm vi hoạt động rộng. Xây dựng, phát triển đội ngũ thương nhân thành phố từng bước lớn mạnh, tham gia tích cực vào quá trình phát triển nhanh thị trường trong và ngoài nước.
Phát huy tối đa các lợi thế, huy động mọi nguồn lực, tạo bước phát triển đột phá về cách thức tăng trưởng công nghiệp, thương mại; xây dựng Hải Phòng trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại lớn có sức cạnh tranh cao, chú trọng tăng trưởng xanh, tiêu hao ít hơn tài nguyên, năng lượng, trong đó trọng tâm là: đầu tư kết cấu hạ tầng công nghiệp, thương mại; đổi mới mô hình thu hút đầu tư, phát triển lực lượng lao động kỹ thuật có trình độ cao, xây dựng chính sách khuyến khích ưu tiên phát triển công nghiệp chủ lực, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ hiện đại, công nghệ cao; phát triển thương mại theo hướng văn minh, hiện đại, đóng góp tích cực vào tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và tái cấu trúc nền kinh tế thành phố, tạo động lực cho kinh tế thành phố chủ động hội nhập sâu hơn vào kinh tế quốc tế.
(1) Giai đoạn đến năm 2020:
Tập trung nguồn lực để đầu tư phát triển các khu, cụm công nghiệp đã được phê duyệt; mở rộng thêm diện tích các khu, cụm công nghiệp từ 4.000 đến 5.000 ha; 100% số khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường. Phát triển thêm 4 - 6 trung tâm thương mại, 5 siêu thị; 40% tổng số chợ chuyển đổi thành công mô hình quản lý, kinh doanh, khai thác chợ. Xây dựng 3 trung tâm logistic: Lạch Huyện, Nam Đình Vũ và VSIP.
GRDP công nghiệp tăng 12,5%-13,5%/năm; chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 18% - 19%/năm; đến năm 2020 GRDP công nghiệp chiếm 31-32% GRDP thành phố. Tỷ lệ giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp chiếm 40%.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 160.000 tỷ đồng, tăng bình quân 15,5% - 16,5%/năm; tỷ trọng bán lẻ của các loại hình bán lẻ hiện đại chiếm 30% trong tổng mức bán lẻ thành phố vào năm 2020. Kim ngạch xuất khẩu đạt từ 10 – 12 tỷ USD vào năm 2020 với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa bình quân 18-23%/năm.
(2) Giai đoạn 2021 đến 2025:
Đến năm 2025, phát triển thêm 1.500 ha diện tích đất khu công nghiệp và 395 ha diện tích đất cụm công nghiệp. Phát triển thêm 5 - 6 trung tâm thương mại, 6 siêu thị; 60% tổng số chợ chuyển đổi thành công mô hình quản lý, kinh doanh, khai thác chợ. Xây dựng mới 2 trung tâm logistics: Tràng Duệ, Tiên Lãng; mở rộng và nâng cấp các trung tâm Logistics: Lạch Huyện, Nam Đình Vũ, VSIP.
GRDP công nghiệp tăng 13%/năm; Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 17% - 18%/năm. Đến năm 2025, GRDP công nghiệp chiếm 29,5% - 30% GRDP toàn thành phố. Tỷ lệ giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ, kỹ thuật cao trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp chiếm 45%.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt trên 320.000 tỷ đồng, tăng bình quân 15% - 16%/năm. Tỷ trọng bán lẻ của các loại hình bán lẻ hiện đại chiếm 45% trong tổng mức bán lẻ thành phố. Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 22 tỷ USD, tăng bình quân 14,7-16,5%/năm.
(3) Giai đoạn 2026 đến 2030:
Đến năm 2030, phát triển thêm 1.433 ha diện tích đất khu công nghiệp và 400 ha diện tích đất cụm công nghiệp. Phát triển thêm 8 - 10 trung tâm thương mại, 15 siêu thị; 100% tổng số chợ chuyển đổi thành công mô hình quản lý, kinh doanh, khai thác chợ. Nâng cấp các trung tâm logistics: Lạch Huyện, Nam Đình Vũ, VSIP, Tràng Duệ, Tiên Lãng.
GRDP công nghiệp tăng 12 - 13%/năm; Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 17% - 18%/năm. GRDP công nghiệp chiếm 27% GRDP toàn thành phố. Tỷ lệ giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ, kỹ thuật cao trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp chiếm 50%.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 620.000 tỷ đồng, tăng bình quân 14% - 15%/năm. Tỷ trọng bán lẻ của các loại hình bán lẻ hiện đại chiếm 60% trong tổng mức bán lẻ thành phố. Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 45 tỷ USD, tăng bình quân 14,7-16,5%/ năm.
Rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển công nghiệp, thương mại của thành phố. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các Đề án: Quy hoạch phát triển hệ thống bán buôn bán lẻ trên địa bàn thành phố giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030; Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển thương mại thành phố đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch phát triển mạng lưới cửa hàng chuyên kinh doanh LPG, trạm cấp LPG, trạm nạp LPG vào ô tô, trạm nạp LPG vào chai, kho LPG với tổng dung tích các bồn chứa dưới 5.000 m3 trên địa bàn thành phố Hải Phòng đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; Quy hoạch phát triển điện lực thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016- 2025 có xét đến 2035.
Xây dựng Quy hoạch, Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ thành phố giai đoạn 2017-2025, tầm nhìn đến 2030; Chương trình hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp thành phố Hải Phòng.
2. Đầu tư kết cấu hạ tầng đồng bộ, đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp, thương mại
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, chợ, trung tâm thương mại, siêu thị, trung tâm logistics, hạ tầng thương mại điện tử theo hướng văn minh, hiện đại. Cụ thể như sau:
* Giai đoạn từ nay đến năm 2020:
Đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật các khu công nghiệp: VSIP 200 ha (diện tích còn lại), Tràng Duệ giai đoạn 2+3 (850 ha), Nam Đình Vũ khu 1 (1329 ha), An Dương (196 ha), Cầu Cựu (106 ha). Triển khai xây dựng khu công nghiệp chuyên sâu (200 ha), Bến Rừng (450ha), Cát Hải và Lạch Huyện GĐ1 (350ha), Nam Tràng Cát (1.000 ha) với tổng diện tích 3681 ha.
Sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng mới các cụm công nghiệp: Thị trấn Tiên Lãng, Giang Biên, Tân Trào, Trung tâm dịch vụ hậu cần và phát triển nghề cá Trân Châu và đầu tư xây dựng mới khu xử lý nước thải tập trung tại cụm công nghiệp: Quán Trữ, An Tràng 1, An Tràng 2; ứng trước vốn giải phóng mặt bằng các cụm công nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư các cụm công nghiệp làng nghề mắm Cát Hải và các cụm công nghiệp: Tiên Cường 1, Quang Phục, Cẩm Văn, Làng nghề Mỹ Đồng với tổng diện tích 368 ha.
Phát triển thêm 4 - 6 trung tâm thương mại, 5 siêu thị; 40% tổng số chợ chuyển đổi thành công mô hình quản lý, kinh doanh, khai thác chợ. Xây dựng 3 trung tâm logistic: Lạch Huyện, Nam Đình Vũ và VSIP.
* Giai đoạn từ 2021 – 2030:
Huy động tối đa các nguồn vốn hợp pháp từ các thành phần kinh tế để tiếp tục đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công nghiệp đã được quy hoạch. Khuyến khích thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp: An Hưng – Đại Bản (450 ha), Giang Biên 2 (350 ha), Tiên Thanh (450 ha), An Hòa (200 ha), Ngũ Phúc (450 ha), Nam Đình Vũ khu 2 (513 ha), Vinh Quang – Vĩnh Bảo (350 ha), Cát Hải và Lạch Huyện giai đoạn 2 (170 ha) với tổng diện tích 2.933 ha.
Tiếp tục nghiên cứu đề xuất cơ chế đầu tư từ ngân sách thành phố phát triển một số cụm công nghiệp: Dũng Tiến – Giang Biên, An Thọ, Chiến Thắng, Nam Am, làng nghề Cổ Am, và đầu tư khu xử lý nước thải tập trung các cụm công nghiệp: Quốc Tuấn, Gia Đức, Liên Khê, Kiền Bái – Cao Nhân, đường 355, Hải Thành; ứng trước vốn giải phóng mặt bằng các cụm công nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư các cụm công nghiệp: Tiên Cường 2, Tiên Cường 3, Đò Nống, Đại Thắng, An Lão, … với tổng diện tích khoảng 790 ha. Đồng thời nghiên cứu, quy hoạch phát triển mới các cụm công nghiệp với tổng diện tích khoảng 400 ha.
Phát triển thêm 13-16 trung tâm thương mại, 21 siêu thị; 100% tổng số chợ chuyển đổi thành công mô hình quản lý, kinh doanh, khai thác chợ. Xây dựng mới 2 trung tâm logistics: Tràng Duệ, Tiên Lãng, mở rộng và nâng cấp các trung tâm Logistics: Lạch Huyện, Nam Đình Vũ, VSIP, Tràng Duệ, Tiên Lãng.
Nhu cầu sử dụng đất xây dựng kết cấu hạ tầng công nghiệp, thương mại giai đoạn 2017 - 2030:
- Giai đoạn 2017-2020: 5.929 ha, trong đó: đất công nghiệp: 4.049 ha; đất thương mại: 1.880 ha
- Giai đoạn 2021-2025: 3.964 ha, trong đó: đất công nghiệp: 1.895 ha; đất thương mại: 2.069 ha
- Giai đoạn 2026-2030: 3.999 ha, trong đó: đất công nghiệp: 1.833 ha; đất thương mại: 2.166 ha
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch hành động của UBND thành phố thực hiện Chiến lược Xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 - 2020, định hướng đến năm 2030 và Chương trình xúc tiến thương mại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2014-2020. Tham mưu giúp UBND thành phố xây dựng Chiến lược Xuất nhập khẩu hàng hóa, Chương trình xúc tiến thương mại thành phố Hải Phòng trong các giai đoạn tiếp theo trình HĐND thành phố phê duyệt.
Tăng cường phổ biến cung cấp thông tin về thị trường, kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế; tạo cầu nối cho các doanh nghiệp hợp tác phát triển kinh doanh, tìm kiếm bạn hàng mở rộng thị trường; xây dựng chiến lược thị trường cho từng ngành, từng sản phẩm, bảo đảm phù hợp với các quy định tại các Hiệp định thương mại đa phương và song phương mà Việt Nam đã ký kết. Xúc tiến mở rộng thị trường nước ngoài, có chiến lược mở rộng và làm chủ thị trường trong nước, trước mắt tập trung cho thị trường những địa phương có sức tiêu thụ lớn.
Bảo đảm cung ứng đủ điện với chất lượng tốt cho phát triển công nghiệp và thương mại; áp dụng quy trình quản lý, vận hành tiên tiến bảo đảm sản xuất sạch hơn, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất, truyền tải và tiêu dùng, đặc biệt với các cơ sở sản xuất quy mô lớn, tiêu thụ nhiều năng lượng. Phát triển mạng lưới các doanh nghiệp nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn, tổ chức hỗ trợ thương mại hóa, chuyển giao công nghệ xanh, sản xuất sạch hơn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tăng cường công tác thẩm định, lựa chọn dự án, cấp phép đầu tư, không chấp thuận các dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu tốn tài nguyên. Rà soát, sửa đổi, bổ sung Danh mục các dự án công nghiệp khuyến khích đầu tư, đầu tư có điều kiện và không chấp thuận đầu tư trên địa bàn thành phố.
Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về môi trường , yêu cầu tất cả khu công nghiệp, cụm công nghiệp xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung; buộc các đối tượng có quy mô xả thải lớn lắp đặt ngay các thiết bị kiểm soát, giám sát hoạt động xả thải tự động theo quy định của pháp luật và truyền số liệu trực tiếp về Sở Tài nguyên - Môi trường.; xây dựng lộ trình và tiến hành di dời một số nhà máy công nghiệp trong nội thành và các cửa hàng xăng dầu không bảo đảm điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật, không tuân thủ các điều kiện về môi trường.
Xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình khoa học và công nghệ hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm trọng điểm, chủ lực; chương trình đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của thành phố.
Khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, từng bước đổi mới công nghệ thiết bị theo hướng tiên tiến, hiện đại, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường. Khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh các hoạt động sáng kiến để tạo ra các giải pháp công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, tạo ra sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao.
Tập trung xây dựng, thúc đẩy các hoạt động ứng dụng, nghiên cứu phát triển, chuyển giao các công nghệ chủ chốt của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, trong đó bao gồm các nghiên cứu về công nghệ thông tin, vật lý, sinh học, trí tuệ nhân tạo, vật liệu,...
Tiếp tục khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế, thực hiện đăng ký bảo hộ thương hiệu, nhãn mác sản phẩm và quyền sở hữu công nghiệp phục vụ quá trình hội nhập.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tập trung đào tạo và đào tạo lại đội ngũ công nhân kỹ thuật; đổi mới công tác đào tạo, thu hút nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu lao động để phát triển công nghiệp, thương mại trên địa bàn thành phố Hải Phòng... Ưu tiên phát triển đào tạo các ngành nghề công nghệ cao; mở rộng các hình thức hợp tác trong đào tạo nhân lực theo hướng gắn kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, thực hiện đào tạo có địa chỉ, theo yêu cầu nhà đầu tư; phát triển các hình thức hợp tác quốc tế về đào tạo công nhân kỹ thuật... Tranh thủ các nguồn tài trợ của nước ngoài về vốn, chuyên gia kỹ thuật để đào tạo thợ bậc cao.
Xây dựng đội ngũ công nhân thành phố có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao, có khả năng tiếp thu nhanh, làm chủ công nghệ mới và phương thức kinh doanh hiện đại. Thực hiện các đề án hỗ trợ bồi dưỡng nâng cao trình độ và kỹ năng, chuyên môn hóa trong quản lý sản xuất công nghiệp và kinh doanh thương mại; hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực quản trị kinh doanh cho các đối tượng là chủ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở công nghiệp nông thôn; cán bộ quản lý chợ, cán bộ hợp tác xã thương mại, các hộ kinh doanh…
Xây dựng cơ sở dữ liệu về các khu, cụm công nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, chợ, trung tâm thương mại, siêu thị, trung tâm logistics... Nghiên cứu thành lập Trung tâm phát triển và quản lý cụm công nghiệp.
Nâng cao chất lượng, trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà nước về công thương. Chủ động tháo gỡ vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp, nhà đầu tư; bảo đảm phát triển công nghiệp, thương mại theo đúng định hướng, hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng và bảo đảm môi trường. Theo dõi sát, dự báo xu hướng thị trường, tăng cường thông tin phổ biến thị trường cho các hiệp hội, doanh nghiệp.
Quản lý tốt thị trường các kênh phân phối, bán lẻ, kiểm soát chặt chẽ các nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tham gia thị trường phân phối bán lẻ trên địa bàn thành phố theo đúng quy định và cam kết quốc tế. Tăng cường kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu và lưu thông trên địa bàn thành phố để chống hàng lậu, hàng kém chất lượng. Nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, nhất là đối với các hoạt động khuyến mại, các hành vi đầu cơ găm hàng, tăng giá bất hợp lý.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là thủ tục liên quan đến thu hút đầu tư, môi trường kinh doanh. Phát huy hiệu quả của Trung tâm Xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch thành phố, vai trò tích cực của các sở, ngành chức năng và các địa phương trong hoạt động xúc tiến đầu tư phát triển công nghiệp thương mại. Tăng cường xúc tiến đầu tư theo hướng chủ động, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quản bá tiềm năng, lợi thế và chính sách của thành phố.
Rà soát, sửa đổi các quy định của thành phố về quản lý đầu tư, xây dựng theo hướng thông thoáng. Tăng cường phân cấp, ủy quyền, rà soát giảm bớt các thủ tục hành chính. Nâng cao chất lượng công tác thẩm tra các dự án; tăng cường công tác giám sát đầu tư sau cấp phép, đặc biệt là các dự án phát triển hạ tầng khu, cụm công nghiệp, kiên quyết thu hồi các dự án chậm triển khai, thực hiện không đúng tiến độ đã cam kết. Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật chuyên ngành, nâng cao vai trò của các hiệp hội trong hoạt động công nghiệp và thương mại.
Tiếp tục thực hiện Chương trình khuyến công quốc gia, Chương trình khuyến công thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016-2020. Xây dựng Chương trình khuyến công thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011-2030, trong đó tập trung vào những chương trình hỗ trợ: Nâng cao năng lực quản lý; đào tạo, truyền nghề và phát triển nghề trong các cơ sở công nghiệp nông thôn; xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật; liên doanh, liên kết, hợp tác kinh tế; lập quy hoạch chi tiết, xử lý môi trường cụm công nghiệp bằng nguồn vốn Trung ương và địa phương.
Hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào chuỗi sản xuất và cung ứng của các tập đoàn kinh tế lớn trong việc cung cấp các sản phẩm hỗ trợ và thúc đẩy cùng phát triển. Tư vấn và giúp doanh nghiệp phát triển thương hiệu, ứng dụng công nghệ mới, tìm kiếm thị trường. Tổ chức các lớp tập huấn về phát triển thương mại điện tử, xúc tiến thương mại; tổ chức hội chợ triển lãm giới thiệu sản phẩm, công nghệ.
Thúc đẩy và nâng cao hiệu quả liên kết giữa thành phố Hải Phòng với thị trường các địa phương khác trong cả nước, đặc biệt là với các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng Bắc Bộ về các hoạt động công nghiệp và thương mại nhằm tạo điều kiện đưa các sản phẩm công nghiệp, nông lâm thủy sản của Hải Phòng vào thị trường các tỉnh lân cận và trên cả nước. Liên kết trong thực hiện quy hoạch. Tổ chức nghiên cứu thị trường trọng điểm, thi trường lân cận để xác định lợi thế so sánh và khả năng hợp tác trong phát triển công nghiệp và thương mại.
Chủ động tạo lập các mối liên kết song phương với nhiều cấp độ và hình thức khác nhau, tăng cường liên kết và xúc tiến các hoạt động hợp tác với các nước trong khu vực ASEAN; khai thác lợi thế thương mại trong khuôn khổ các hiệp định thương mại FTA, TTP từ lợi thế của thành phố. Thúc đẩy liên kết giữa thị trường thành phố với các thị trường nước ngoài có tính chiến lược.
Tăng cường hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực: xúc tiến đầu tư, thương mại, đào tạo lao động, ứng dụng và chuyển giao công nghệ.
Xây dựng, trình HĐND thành phố thông qua cơ chế, chính sách: (1) Cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp; (2) Cơ chế, chính sách về phát triển công nghiệp hỗ trợ; (3) Cơ chế, chính sách hỗ trợ các dự án phát triển nguồn năng lượng tái tạo; các dự án tiết kiệm năng lượng và sản xuất sạch hơn; (4) Cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển thương mại (trung tâm logistic, trung tâm thương mại, siêu thị, chợ nông thôn); (5) Cơ chế, chính sách xúc tiến thương mại; (6) Cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển hạ tầng thương mại điện tử và giao dịch, thanh toán điện tử.v.v.
V. Nhu cầu sử dụng đất, nhu cầu vốn và nguồn vốn thực hiện
1. Nhu cầu sử dụng đất xây dựng kết cấu hạ tầng công nghiệp, thương mại giai đoạn 2017 - 2030
- Giai đoạn 2017-2020: 5.929 ha, trong đó: đất công nghiệp: 4.049 ha; đất thương mại: 1.880 ha
- Giai đoạn 2021-2025: 3.964 ha, trong đó: đất công nghiệp: 1.895 ha; đất thương mại: 2.069 ha
- Giai đoạn 2026-2030: 3.999 ha, trong đó: đất công nghiệp: 1.833 ha; đất thương mại: 2.166 ha
2. Nhu cầu vốn và nguồn vốn thực hiện
Tổng vốn dự kiến giai đoạn 2017-2030 là 175.055 tỷ đồng (vốn ngân sách thành phố hỗ trợ 4.487 tỷ đồng, vốn xã hội hóa là 171.468 tỷ đồng). Trong đó:
- Giai đoạn 2017-2020: 78.444 tỷ đồng (vốn ngân sách thành phố hỗ trợ 1.766 tỷ đồng, vốn xã hội hóa là 76.678 tỷ đồng);
- Giai đoạn 2021-2025: 50.857 tỷ đồng (vốn ngân sách thành phố hỗ trợ 1.727 tỷ đồng, vốn xã hội hóa là 49.630 tỷ đồng);
- Giai đoạn 2026-2030: 45.754 tỷ đồng (vốn ngân sách thành phố hỗ trợ 994 tỷ đồng, vốn xã hội hóa là 45.160 tỷ đồng).