Kỳ 2: Hạ tầng, chính sách hỗ trợ còn thiếu, yếu

Cảng cá Ngọc Hải bị sa bồi gây khó khăn cho tàu thuyền ra, vào. Ảnh: Trung Kiên
(HPĐT)- Cơ sở vật chất hạ tầng cảng cá không đồng bộ, xuống cấp; dịch vụ hậu cần phục vụ phát triển nghề cá chưa theo kịp sự phát triển, khiến hoạt động khai thác thuỷ sản gặp khó. Trong khi cơ chế, chính sách hỗ trợ ngư dân vươn khơi chưa đủ mạnh, phát huy hiệu quả như kỳ vọng. Đây là những “điểm nghẽn” cần nhanh chóng tháo gỡ để vực dậy nghề khai thác thủy sản trên địa bàn thành phố.
Cảng cá, khu neo đậu, dịch vụ hậu cần chưa tương xứng
Được đưa vào khai thác, sử dụng cách đây 3 năm với tổng mức đầu tư gần 300 tỷ đồng, cảng cá Trân Châu, xã Trân Châu (huyện Cát Hải) là 1 trong 2 cảng cá chỉ định (cảng có đủ hệ thống xác nhận nguồn gốc thủy sản từ khai thác đối với tàu cá từ 15m trở lên cập cảng) của thành phố. Thế nhưng đến nay toàn bộ khu hậu cần nghề cá cảng cá Trân Châu để hoang, cỏ mọc, âu cảng thưa thớt tàu cá. Lý giải việc ngại đưa tàu vào cảng cá Trân Châu, theo thuyền trưởng Lê Tấn Đức, chủ tàu HP-90803-TS, luồng vào cảng hẹp, có nhiều bãi đá ngầm, phương tiện rất dễ va đập với đê chắn sóng, cọc neo. Mặt khác, “Tàu cập bến là để bán hải sản và mua nhu yếu phẩm cho chuyến biển mới, nhưng dịch vụ hậu cần chưa phát triển nên ít tàu vào cảng Trân Châu”- anh Đức cho hay. Trước thực trạng công trình không phát huy công năng đầu tư, tại tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 12, HĐND thành phố khóa 16, ông Vũ Văn Toàn, Chủ tịch Ủy ban MTTQ xã Trân Châu đề nghị: Sở, ngành thành phố đẩy nhanh việc thu hút các nhà đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hậu cần để phát huy giá trị công trình, tránh lãng phí.
Cảng cá Ngọc Hải, phường Hải Sơn (quận Đồ Sơn) lâu nay là cảng bốc dỡ hải sản chính của ngư dân thành phố và các tỉnh lân cận. Sau nhiều năm khai thác nhưng không thường xuyên được nạo vét, duy tu, luồng vào cảng sa bồi, nông đầy, nhiều tàu bị mắc cạn tại cửa bến. Hay như tại huyện Thủy Nguyên, dự án xây dựng khu neo đậu Mắt Rồng tại xã Lập Lễ được thực hiện từ năm 2007, đến nay chưa được quyết toán nên dù bến, luồng bị sa bồi, ảnh hưởng việc ra, vào của tàu cá, nhưng không thể triển khai việc nạo nét, duy tu. Ông Đinh Khắc Xề, chủ tàu HP- 90756 TS băn khoăn: Tàu cá công suất máy, chiều dài ngày càng lớn mà cảng cá, khu neo đậu ngày càng xuống cấp, chật hẹp, dịch vụ hậu cần thiếu đủ thứ. “Sau chuyến biển, ngư dân rất muốn đưa tàu về cảng, khu neo đậu gần nhà để thuận tiện việc trông coi, bảo quản tài sản, nhưng phải rất vất vả chờ đợi con nước dâng mới vào được cảng. Không ít lần tôi phải cho tàu neo tại cảng cá ở miền Trung, rồi bắt xe khách về thăm nhà”.
Thành phố hiện có 3 cảng cá và 5 khu neo đậu tàu, thuyền kết hợp tránh trú bão đa dạng từ ven bờ, ven biển đến giữa vịnh Bắc bộ. Tuy nhiên, kết cấu hạ tầng cảng, khu neo đậu xập xệ, xuống cấp; dịch vụ hậu cần, khâu bảo quản, thu mua sau đánh bắt gần như bị “bỏ ngỏ”, chưa theo kịp nhu cầu hoạt động khai thác thủy sản khiến sức hút của khu neo đậu, cảng cá ngày càng giảm. Điều đó khiến nhiều ngư dân không đưa sản phẩm về bờ mà bán ngay ngoài ngư trường hoặc cập cảng địa phương khác. Vì vậy, nhiều cơ sở chế biến tại Hải Phòng rơi vào cảnh thiếu nguyên liệu. Anh Ngô Việt Phương, Phó tổng giám đốc Công ty TNHH chế biến- xuất nhập khẩu thủy sản Việt Trường cho biết, để có đủ nguyên liệu sản xuất cho nhà máy trong bối cảnh tàu cá ngư dân “ngại” cập bến nhà, doanh nghiệp phải đóng 6 tàu dịch vụ hậu cần thu mua hải sản của ngư dân ngay trên ngư trường, chi phí sản xuất vì thế tăng lên.
Còn khó tiếp cận chính sách ưu đãi
Để hỗ trợ ngư dân, những năm qua, thành phố ban hành, thực hiện nhiều cơ chế, chính sách. Như Nghị quyết 13/2020/NQ-HĐND thành phố quy định hỗ trợ 50% kinh phí (không quá 12 triệu đồng/tàu) mua, lắp thiết bị giám sát hành trình tàu cá (VMS) và phí thuê bao dịch vụ thiết bị (trong thời gian 3 năm và không quá 3 triệu đồng/tàu/năm); hỗ trợ kinh phí mở 15 lớp đào tạo, cấp bằng chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng, thuyền viên và kỹ thuật bảo quản theo công nghệ mới cho 525 học viên, với chi phí hỗ trợ hơn 4,2 tỷ đồng. Giai đoạn 2014-2020, các quận, huyện có 47 hộ được vay vốn đóng tàu theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ, với kỳ vọng thúc đẩy ngư dân vươn khơi, bám biển, tổ chức lại sản xuất theo hướng bài bản, bền vững. Thực tế, các chính sách này chưa đủ mạnh, chưa khuyến khích ngư dân đầu tư, nâng cao hiệu quả sản xuất. Thậm chí, một số tàu đóng theo cơ chế Nghị định 67 hoạt động không hiệu quả, chủ tàu rơi vào cảnh nợ nần, bị ngân hàng tịch biên tàu, ngư dân bỏ nghề biển.
Theo các ông Vũ Văn Cự, Trưởng Liên tập đoàn đánh cá biển Nam Triệu và Lưu Đình Dũng, Chủ nhiệm Câu lạc bộ đánh cá xa bờ phường Hải Sơn, dù số lượng tàu cá liên tục giảm, 5 năm gần đây, 2 đơn vị không có thêm ngư dân đóng mới phương tiện. Lý do, chi phí đóng mới 1 tàu cá vươn khơi hiện lên tới cả chục tỷ đồng, nhưng chính sách ưu đãi vay vốn, hỗ trợ ngư dân đóng mới phương tiện còn rất hạn chế, khó tiếp cận. Trong khi lãi vay của ngân hàng thương mại hay “tín dụng đen” cao, hiệu quả sản xuất bấp bênh nghề, khiến những ngư dân có ý định đóng tàu vươn khơi dễ “nhụt chí”, bỏ cuộc. Việc Chính phủ xây dựng nghị định mới thay thế Nghị định 67/2014/NĐ-CP về một số chính sách phát triển thủy sản, hỗ trợ ngư dân là điều ngư dân đang rất mong mỏi, kỳ vọng. Với các sở, ban, ngành thành phố, địa phương, cần vào cuộc quyết liệt, tích cực đồng hành, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, có giải pháp thiết thực hỗ trợ ngư dân. Nhất là việc chỉ đạo, phối hợp các ngân hàng trong công tác thẩm duyệt, xử lý tài sản bảo đảm, giãn nợ, nới cơ chế… để ngư dân có thể tiếp cận nguồn vốn đầu tư phương tiện, ngư lưới cụ vươn khơi, bám biển.
Chủ tịch UBND phường Hải Sơn (quận Đồ Sơn) Lưu Đình Dũng cho rằng, khi sản xuất trên biển hiệu quả thấp, trên bờ lại có nhiều việc làm với thu nhập hấp dẫn, đỡ vất vả hơn, việc ngư dân bỏ nghề là khó tránh. Số tàu cá giảm đáng lo ngại, nhưng lo hơn cả là việc “chảy máu” lao động nghề biển. Lao động nghề cá có tính đặc thù, phải nhiều năm mới đào tạo được ngư dân vững tay nghề, có kinh nghiệm đi biển. Bởi vậy, việc mất dần lao động nghề cá là sự lãng phí lớn. Để đủ lao động đi biển, có chủ tàu phải thuê “ngư dân” từ các tỉnh miền núi phía Bắc, thậm chí nhiều người lên tàu đi biển mà… không biết bơi. Không còn ngư dân có kinh nghiệm, sẽ rất khó phát triển đội tàu vươn khơi, “để trống” vùng biển, ảnh hưởng đến bảo vệ chủ quyền an ninh biển, đảo Tổ quốc. Nhằm giúp vực dậy nghề khai thác thủy sản, mong các cấp, ngành thành phố sớm có chính sách thiết thực, hiệu quả giúp ngư dân yên tâm vươn khơi, bám biển, cụ thể như vay vốn sản xuất; hỗ trợ chi phí bảo hiểm thuyền viên, thân tàu, bảo hiểm rủi ro hay chi phí đăng kiểm tàu cá…
---------------------------------------
Kỳ cuối: Để ngư dân yên tâm vươn khơi, bám biển
MINH KHÔI