Phiên họp thứ 37 Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Tạo thuận lợi, minh bạch, bình đẳng cho người dân và doanh nghiệp trong hoạt động xây dựng

Theo TTXVN 18/09/2019 14:25

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng trình bày báo cáo thẩm tra. Ảnh: TTXVN

*Đơn giản hóa thủ tục hành chính

Trình bày Tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Phạm Hồng Hà nêu rõ: Mục đích của việc sửa đổi, bổ sung Luật Xây dựng năm 2014 là tiếp tục thể chế hóa Nghị quyết của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng, đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu tạo điều kiện thuận lợi, minh bạch, bình đẳng cho người dân và doanh nghiệp; khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực tiễn công tác đầu tư xây dựng; bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

Dự án Luật được xây dựng trên cơ sở tuân thủ 3 nhóm chính sách đã được Chính phủ thông qua. Cụ thể, nhóm chính sách thứ nhất “Cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng” gồm các nội dung sửa đổi, bổ sung về: thẩm định dự án, thiết kế xây dựng; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia thẩm định dự án, thiết kế xây dựng; thẩm quyền, trình tự, đối tượng cấp giấy phép xây dựng; quản lý chi phí đầu tư xây dựng, hợp đồng trong hoạt động xây dựng; hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng; quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng...

Nhóm chính sách 2 “Bãi bỏ, đơn giản hóa điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực xây dựng” gồm các nội dung sửa đổi, bổ sung về: điều kiện đầu tư kinh doanh đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thuộc lĩnh vực xây dựng...

Nhóm chính sách 3 “Hoàn thiện chính sách, pháp luật về xây dựng bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với pháp luật có liên quan” gồm các nội dung sửa đổi, bổ sung về: quản lý đầu tư xây dựng theo nguồn vốn sử dụng; đối tượng phải lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi; quy định về cấp giấy phép đối với công trình quảng cáo...

*Xác định những vấn đề cấp bách cần sửa đổi

Thẩm tra sơ bộ dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng cho biết, về phạm vi sửa đổi, bổ sung có 2 loại ý kiến. Loại ý kiến thứ nhất tán thành với các nội dung sửa đổi, bổ sung; tên gọi của dự thảo Luật như Tờ trình của Chính phủ. Loại ý kiến thứ hai đề nghị sửa đổi toàn diện Luật Xây dựng để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc hiện nay như ý kiến kiến nghị của một số bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp.

Qua nghiên cứu, Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cơ bản tán thành với loại ý kiến thứ nhất vì nhận thấy Luật Xây dựng có phạm vi điều chỉnh rộng, phức tạp, liên quan đến rất nhiều văn bản pháp luật của nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có một số văn bản đang được xây dựng mới và tiếp tục được hoàn thiện. Hơn nữa, Luật Xây dựng có hiệu lực từ đầu năm 2015, một số văn bản hướng dẫn thực hiện Luật mới được ban hành, chưa có nhiều thời gian để đánh giá, tổng kết đầy đủ, toàn diện. Vì vậy, trước mắt chỉ nên sửa đổi, bổ sung những nội dung Luật thực sự cấp bách, cần thiết, đã được tổng kết, đánh giá và có sự đồng thuận cao.

Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc bày tỏ băn khoăn liệu dự án Luật có khắc phục được những tồn tại hiện nay trong công tác đầu tư, xây dựng như xử lý công trình sai phép, thậm chí có tình trạng “phạt cho tồn tại”; chung cư cơi nới, nhà siêu mỏng… Ông Phúc đánh giá, những nội dung sửa đổi trong dự án Luật chưa phải là những vấn đề bức xúc; vì thế, ban soạn thảo cần nghiên cứu thấu đáo, đánh giá tác động toàn diện hơn.

Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Lê Thị Nga cho rằng, để xác định được nội dung cần sửa đổi, bổ sung thì quan trọng nhất là Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật Xây dựng, từ đó đánh giá đúng thực trạng để sửa Luật.

“Tình hình vi phạm trật tự xây dựng thời gian qua ở mức độ như thế nào, công trình xây dựng không phép, sai phép thời gian qua ra sao? Cần đánh giá kỹ thực trạng những công trình không phép, sai phép tồn tại kéo dài đồng thời đánh giá rõ trách nhiệm chủ thể, trong đó có chính quyền địa phương khi thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm”, Chủ nhiệm Lê Thị Nga nêu quan điểm.

Bên cạnh đó, vấn đề chất lượng các công trình đầu tư công, công trình của Nhà nước “làm thì lâu, xuống cấp nhanh”, tình trạng “rút ruột công trình” xảy ra phổ biến... “Có lỗi gì trong Luật không, quy trình hoạt động xây dựng như thế nào mà lại để xảy ra thực tế này?”, bà Nga đặt câu hỏi.

Trưởng Ban Dân nguyện của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nguyễn  Thanh Hải nhấn mạnh, cử tri rất kỳ vọng và quan tâm đến dự án Luật này, đặc biệt là vấn đề cấp phép xây dựng và quản lý trật tự xây dựng. “Tất cả các điều khoản trong dự án Luật từ quy trình lập thẩm định, xin giấy phép có đảm bảo giảm thủ tục hành chính, ngắn gọn, tiết kiệm, chống lãng phí như đã nêu trong nguyên tắc hay không”, bà Hải băn khoăn.

Dẫn thông tin báo chí nêu “làm doanh nghiệp mới biết thời gian làm thủ tục là vô tận”, bà Hải cho rằng, tất cả chi phí phát sinh do thời gian làm thủ tục đều đổ lên người dân. “Một doanh nghiệp nói là công trình đầu tư xây dựng nhà 200 tỷ đồng, lãi suất vay 1,5% thì mỗi ngày trung bình phải trả 100 triệu đồng lãi suất ngân hàng. Mỗi ngày chờ đợi thêm để cấp phép thủ tục sẽ gánh thêm giá thành của nhà sau đó bán”, bà Hải nêu rõ đồng thời đề nghị ban soạn thảo rà soát kỹ các điều khoản trong dự án Luật này để đảm bảo rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính nhưng vẫn đảm bảo trật tự đô thị và các quy định khác.

* Tiếp tục chương trình Phiên họp thứ 37, chiều 18/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021- 2025.


Trình bày Tờ trình, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến cho biết: Hiện nay, vùng đồng bào dân tộc thiểu số - miền núi vẫn là vùng khó khăn nhất, chất lượng nguồn nhân lực thấp nhất, kinh tế - xã hội phát triển chậm nhất, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản thấp nhất, tỷ lệ hộ nghèo cao nhất.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó phần lớn là do vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi chủ yếu là ở vùng núi cao, biên giới, địa hình chia cắt, khí hậu khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng kém nhất cả nước, xuất phát điểm rất thấp; biến đổi khí hậu, sự cố môi trường diễn ra nghiêm trọng và khó lường. Chi phí sản xuất, lưu thông hàng hóa lớn nên rất khó khăn để thu hút các nguồn lực xã hội đầu tư phát triển kinh tế - xã hội… Vì vậy, rất cần thiết phải xây dựng “Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi” để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện vùng này - ông Đỗ Văn Chiến nói.

Theo Tờ trình, Đề án gồm 6 phần với nội dung cơ bản tập trung đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, phân tích nguyên nhân của hạn chế, yếu kém; đưa ra quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. Trong Đề án cũng nêu rõ các mục tiêu cụ thể đến năm 2025 và 2030; phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Đề án…

Báo cáo thẩm tra do Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Hà Ngọc Chiến trình bày cho thấy, tờ trình Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của Chính phủ còn chưa làm rõ được việc thiếu tính hệ thống, đồng bộ, thống nhất khi ban hành các chính sách. Một số chương trình, chính sách quan trọng nhưng tiến độ thực hiện chậm, kéo dài, không đạt mục tiêu đề ra.

Bên cạnh đó, công tác rà soát, tổng hợp, phân tích, đánh giá chính sách dân tộc hiện nay còn nhiều bất cập. Chính phủ báo cáo có 118 chính sách dân tộc đang còn hiệu lực, thể hiện trên 142 văn bản. Qua rà soát, các chính sách dân tộc chủ yếu là quy định chính sách chung, chưa đề cập tới những văn bản chính sách quan trọng đối với công tác dân tộc. Đề án chưa đánh giá, làm rõ công tác phối hợp giữa các bộ, ngành khi đề xuất xây dựng, ban hành chính sách, dẫn đến tình trạng có nhiều chính sách, do nhiều bộ, ngành quản lý như hiện nay.

Về tích hợp cơ chế, chính sách giữa các Chương trình mục tiêu trong tờ trình của Chính phủ, một số ý kiến cho rằng, việc có thêm một Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số miền núi nhưng không làm rõ mối quan hệ, phân biệt phạm vi, đối tượng so với hai Chương trình mục tiêu quốc gia hiện nay là Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Giảm nghèo bền vững. Điều này có thể lại tiếp tục tạo ra sự chồng chéo, phân tán nguồn lực, gây khó khăn cho địa phương, cơ sở trong khi tổ chức thực hiện, nên cần tiếp tục làm rõ.

Theo các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, khu vực dân tộc thiểu số miền núi, hải đảo có vị trí, tầm quan trọng chiến lược về chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và bảo vệ môi trường sinh thái, nhưng hiện nay, đây là vùng có điều kiện khó khăn nhất, kinh tế - xã hội phát triển chậm nhất, tỷ lệ người nghèo cao nhất. Chỉ ra cần phải có chính sách đủ mạnh để đầu tư cho vùng này nhằm thực hiện mục tiêu thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển và mức thu nhập, cũng là đảm bảo an ninh, quốc phòng của đất nước, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển nêu rõ: Đề án cần đi vào đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để giải quyết những tồn tại hiện nay. Và phải đi vào hai nhóm chính sách, gồm nhóm mang tính chất hỗ trợ của nhà nước, cộng đồng, doanh nghiệp và nhóm mang tính tổ chức.

“Nói đến đồng bào vùng dân tộc thiểu số là khó khăn, yếu thế, phải có sự hỗ trợ... Việc chia ra đề án thành phần như thế nào, tôi thấy là cần phải tính”, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển nhấn mạnh.

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu đã nêu ra các bất cập hiện nay về chính sách cho vùng dân tộc thiểu số và cho rằng, Chính phủ cần chú trọng đến nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính để thực hiện. Đề án cần phân định rõ ràng, thu gọn đầu mối, đầu tư tập trung vào vùng lõi và những nút thắt cơ bản của khu vực này để tăng tính hiệu quả.

“Cần phải quy hoạch lại sản xuất thế nào, quy hoạch lại dân cư thế nào, thôn bản thế nào để có thể đảm bảo đầu tư có hiệu quả hơn. Còn như hiện nay, vẫn thiếu và khó khăn. Tôi cho là công tác quy hoạch lại ở các vùng này phải ưu tiên. Thứ hai nữa là vẫn phải ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng, gồm cả cơ sở vật chất, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục”, Phó Chủ tịch Uông Chu Lưu đề nghị.

Trên cơ sở báo cáo của cơ quan chủ trì thẩm tra và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng Dân tộc kiến nghị, Chính phủ tiếp thu, chỉnh sửa, hoàn thiện Đề án, kèm theo Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi, trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 8 tới./.

Theo TTXVN
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Phiên họp thứ 37 Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Tạo thuận lợi, minh bạch, bình đẳng cho người dân và doanh nghiệp trong hoạt động xây dựng