Quan tâm xử lý chất thải chăn nuôi
Môi trường - Ngày đăng : 16:00, 29/02/2020

Chất thải chăn nuôi trong trang trại của gia đình ông Hạnh được thu gom ủ mục làm phân bón hữu cơ để bán cho các hộ trồng rau trong vùng
Chất thải chăn nuôi là nguồn gây ô nhiễm, lây lan dịch bệnh, có nguy cơ cao ảnh hưởng đến sức khỏe con người và sản xuất nếu không được xử lý tốt. Đặc biệt, sau khi dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi, vấn đề xử lý chất thải càng cần được quan tâm hơn.
Tiềm ẩn nguy cơ cao gây dịch bệnh
Trang trại của ông Phạm Văn Dũng ở thôn Đồng Nại, xã Liên Hồng (TP Hải Dương) là một trong những trang trại chăn nuôi lợn lớn của địa phương. Sau DTLCP, trang trại vẫn duy trì chăn nuôi ổn định với hơn 1.000 con lợn thịt và 140 con lợn nái ngoại.
Ông Dũng khẳng định: "Nguy cơ bùng phát dịch rất cao bởi ở khu vực này có một số hộ tái đàn nhưng vẫn bị tái phát dịch. Virus DTLCP vẫn còn tồn tại trong môi trường, đặc biệt là ở chất thải chăn nuôi. Trong khi đó, nhiều hộ vẫn để nước thải, chất thải từ trong trang trại chảy ra ngoài môi trường dễ lây lan mầm bệnh".
Để giữ được đàn lợn an toàn giữa tâm dịch, trang trại của ông Dũng luôn tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học. Mọi hoạt động đều diễn ra khép kín trong trang trại, kể cả khi xử lý chất thải chăn nuôi.
Chất thải chăn nuôi sau khi qua hệ thống hầm biogas sẽ cho chảy về ao chứa rộng khoảng 500 m2. Khi ao chứa đầy, chất thải sẽ được xử lý bằng công nghệ ép khô để làm phân bón hữu cơ bán ra thị trường với giá 1.200 đồng/kg.
Hiện nay, gia trại của chị Tăng Thị Thúy ở thôn Minh Thành, xã Lai Vu (Kim Thành) nuôi khoảng 50 con lợn thịt. Trước đây, giống như hầu hết các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ khác, trang trại của chị cũng bị thiệt hại bởi DTLCP. Sau dịch bệnh, chị tích cực vệ sinh chuồng nuôi.
Mặc dù thực hiện nhiều biện pháp để tiêu độc, khử trùng chuồng trại nhưng chị vẫn luôn lo lắng vì DTLCP có thể bùng phát bất cứ lúc nào. Theo chị, nguồn lây nhiễm bệnh có thể từ chính chất thải chăn nuôi của các hộ khác trong khu vực thải ra môi trường.
Trước khi DTLCP xảy ra, xã Lai Vu là địa phương có nghề chăn nuôi lợn phát triển mạnh với các trang trại, gia trại quy mô tới hàng nghìn, hàng vạn con gia súc, gia cầm. Sau dịch bệnh, xã vẫn còn 200 hộ chăn nuôi với hơn 4.000 con lợn và khoảng 9.000 con gia cầm.
Dù các cơ sở chăn nuôi đã xây dựng hầm biogas để xử lý chất thải nhưng thể tích nhỏ không đáp ứng được yêu cầu. Hơn nữa, hầu hết các cơ sở chăn nuôi nằm trong khu dân cư nên nước thải, chất thải chăn nuôi được xả chung với chất thải sinh hoạt ra hệ thống cống thoát nước dân sinh nên khó tránh khỏi tình trạng ô nhiễm.

Người chăn nuôi cần thường xuyên phun tiêu độc, khử trùng chuồng trại, thu gom chất thải để hạn chế mầm bệnh phát sinh ra môi trường
Hướng xử lý hiệu quả
Trang trại của ông Bùi Huy Hạnh ở thôn Thượng, xã Tái Sơn (Tứ Kỳ) có tổng diện tích 3 ha, nuôi 1.200 con lợn nái sinh sản. Mỗi năm trang trại cung cấp cho thị trường gần 30.000 con lợn giống thương phẩm. Hằng ngày, trang trại thải ra khoảng 20 m3 nước thải, còn chất thải được thu gom ủ mục làm phân hữu cơ.
Chăn nuôi với quy mô lớn nên việc xử lý chất thải của trang trại được quan tâm đặc biệt. Nơi đây đang ứng dụng công nghệ Saibon của Nhật Bản vào xử lý nước thải. Sau 6 năm sử dụng công nghệ này, ông Hạnh khẳng định chất thải chăn nuôi được xử lý tương đối triệt để, hạn chế nguồn vi sinh vật gây ô nhiễm.
Trước đây, trang trại đã xử lý nước thải bằng hầm biogas nhưng môi trường ở đây và khu vực xung quanh vẫn bị ô nhiễm nặng. Công nghệ Saibon là mô hình xử lý nước thải sau chăn nuôi lợn gồm xử lý cơ học như thu nước, tưới nước, bãi lọc và kết hợp xử lý sinh học như nuôi giun đất, trồng lau sậy.
Nước thải chăn nuôi được thu gom vào bể chứa tập trung, sử dụng máy bơm nước thải bơm trực tiếp vào bể chứa có lắp đặt thiết bị Saibon. Nước từ bể chứa này sẽ chảy tới bể điều tiết phụ, sau đó thoát trực tiếp vào bãi lọc thông qua các van điều tiết nước.
Phần dưới bãi lọc có đặt các ống có lỗ để thu toàn bộ nước thải. Nước thải thu từ bãi lọc thứ nhất tiếp tục được bơm vào bể Saibon và vào bãi lọc tiếp theo đến bãi lọc cuối cùng. Quá trình xử lý vi sinh diễn ra ở tất cả các bề mặt bãi lọc. Nước thải qua các bãi lọc sẽ bảo đảm yêu cầu về xả thải ra ngoài môi trường.
Theo bà Phạm Thị Đào, Phó Trưởng Phòng Chăn nuôi (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), việc xử lý chất thải chăn nuôi trước khi đưa ra ngoài môi trường rất quan trọng. Nếu không xử lý tốt thì đây có thể là nguồn lây lan, phát sinh dịch bệnh.
Hiện nay, có rất nhiều biện pháp để xử lý loại chất thải này từ đơn giản như dùng chế phẩm sinh học với chi phí thấp đến công nghệ hiện đại. Đối với chăn nuôi quy mô lớn và theo phương thức công nghiệp nên xây bể khí sinh học để tận dụng chất thải chăn nuôi sản xuất khí gas phục vụ đun nấu và không gây ô nhiễm môi trường.
Hộ chăn nuôi nhỏ lẻ nên xây dựng bể chứa chất thải lỏng và ủ phân có nắp đậy. Hằng ngày, cần tiến hành thu gom phân, rác trước khi xịt nước rửa chuồng để đưa vào hố ủ hoai mục làm phân bón; thường xuyên phun khử trùng chuồng trại để tiêu diệt mầm bệnh.
TRẦN HIỀN