Nói dài về "Thơ ngắn Nguyễn Hoa"
Tác giả - Tác phẩm - Ngày đăng : 10:19, 01/05/2016
![]() |
Phải có sự trải nghiệm mới viết được thơ ngắn. Có hiểu người, hiểu đời, kìm nén nỗi đau đến tận cùng và tài năng mới viết được thơ ngắn... Nguyễn Hoa hội tụ tất cả những yếu tố trên, với lòng yêu thơ vô bờ để làm nên thương hiệu thơ ngắn của anh.
Những bài thơ ngắn của Nguyễn Hoa, một số có mặt trong các tập thơ của anh đã xuất bản trước đây, một số đăng rải rác trên các báo và tạp chí từ nhiều năm qua, được Nhà xuất bản Hội Nhà văn tập hợp trong tập “Thơ ngắn Nguyễn Hoa”, xuất bản năm 2015. Tập thơ có 51 bài, tính cả “Lời thưa”, như là bài thơ ngắn của anh: “Đây những bài thơ ngắn/nhưng tôi tin: Khi con chữ/tự nguyện/đứng nhận/vào số phận/bài thơ”. Có nghĩa là, từng chữ trong các bài thơ của tập thơ này được chắt lọc, được tác giả gửi những cảm nhận, nghĩ suy, triết luận, dồn nén nhất. Từng con chữ nhận chức năng, nhiệm vụ như người lính tự nguyện đứng vào hàng ngũ, dù chỉ là trong tổ ba người (đơn vị nhỏ nhất theo cách “tam tam chế” trong quân đội). Ở đó, mỗi chữ lại được mã hóa, khiến người đọc tìm những cách khác nhau để giải mã, điều đó khiến câu thơ, bài thơ lung linh hơn.
“Muối” là một trong những bài thơ rất ngắn mà đẹp lung linh. Nói đến muối, vật chất thông dụng, thường có vị mặn, làm từ nước biển, rất cần cho đời sống con người. Muối dùng để bảo quản, “cá không ăn muối cá ươn”. Muối cũng được dùng để so sánh nỗi đau đớn hơn “đau như sát muối”. Nhưng dùng muối để “ướp nỗi đau tươi mãi” thì chỉ có là Nguyễn Hoa. Muối đã được nhà thơ mã hóa, để mỗi người đọc đều cảm nhận cho riêng mình, để cho nghĩa của muối mặn, của nỗi đau đa chiều, nhiều sắc thái hơn.
Cũng rất kiệm từ khi Nguyễn Hoa viết về rượu: “Rượu càng trong/Uống càng nồng/Ước mơ sáng/Khuôn mặt hồng”... (Rượu càng trong). Rượu cất càng trong, càng mạnh, uống thường dễ say, thế mà nhà thơ thấy “ước mơ sáng”. Đấy không phải thứ rượu thường, mà rượu chưng cất từ tâm, từ nỗi niềm nhà thơ. Rượu đó khi uống cho con người tâm thêm sáng, ước mơ đẹp hơn, con người sống với nhau nhân ái hơn.
Nguyễn Hoa luôn hướng thơ mình về cái đẹp, lòng nhân ái, bao dung, thăm thẳm tình người. Anh viết: “Ngoài cửa sổ phòng tôi/Bông hồng nở/Tôi muốn hái/Tặng em/Nhưng, không nỡ/Làm trống đi một chấm đỏ của trời xanh” (Với bông hồng). Hay: “Bình minh/Chim sơn ca mải mê cất cao tiếng hót/Chùm lá biếc rung rinh/Người đi săn/Giương súng lên rình! Mà không hay biết/Chim sơn ca vẫn hót/Cho cả số phận mình!” (Chim sơn ca). Hai tứ thơ gần nhau, nghĩa là đều có thể bị chiếm đoạt, nhưng với bông hồng là chủ động, còn với chim sơn ca là bị động. Nhà thơ gửi đến người đọc những nghĩ suy, khơi gợi lòng bao dung, nhân ái trong con người.
Nguyễn Hoa từng là người lính, trải qua chiến tranh, nên anh dự cảm sâu sắc về giá trị hòa bình, về những mất mát do chiến tranh gây ra. Vì thế anh viết: “Bao giờ/Trái Đất chỉ còn những người lính quân nhạc/Trong các cuộc diễu hành/Để nói với trời xanh/Để nói với đất lành/Về sự hùng dũng của những hiệp sĩ/Trong quá khứ!... (Để nói). Với suy nghĩ giản dị, nhưng sâu sắc, anh lý giải: “Nỗi lầm lớn nhất của nhân loại/đã đẻ ra chiến tranh/muốn sửa lỗi lầm ấy/Chúng ta/hãy bồng bế hòa bình” (Hãy bồng bế hòa bình). Bồng bế thường dùng để nói đến trẻ thơ, thể hiện tình yêu thương và bảo vệ. Hòa bình là thế, mọi người trên Trái Đất này cần chung tay chia sẻ, giữ gìn. Không chỉ trách nhiệm của người lính, Nguyễn Hoa còn luôn đề cao trách nhiệm công dân với Tổ quốc, với sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền biển, đảo. Anh viết về Hoàng Sa với những mộ gió, về biên cương qua hình ảnh hoa lau. Anh tự hào khi đứng trên mảnh đất biên giới: “Nơi đây/Ông, cha, đồng đội/Bao người/Đã nằm xuống?.../Cho tôi đứng/Cao bằng trời”. Đọc lên ngỡ Nguyễn Hoa ngang tàng, cho mình là nhất chăng? Không phải. Cao đó là được nâng lên bởi lịch sử, bởi tinh thần tự tôn dân tộc. Qua thơ, anh muốn nói, để có thành công, thu hái quả ngọt hôm nay, chính là bởi thế hệ đi trước, những người đã đổ máu xương, hy sinh thân mình cho độc lập, giải phóng dân tộc, để khẳng định chủ quyền đất nước mình.
Thơ Nguyễn Hoa có nhiều dự cảm. Dự cảm từ tâm thức đến dự cảm về những thân phận con người, rồi truyền những dự cảm ấy đến bạn đọc niềm yêu, sự thánh thiện và nhân văn hơn. Đây là dự cảm trong tâm thức: “Khuya lâu nghe mọt ăn đêm/Oi trời nồng đất cả trên thiên hà/Trăm năm rồi cũng thoắt qua/Luân hồi kiếp nghiệp cũng là phù du” (Nghe mọt ăn đêm). Khi gặp cây rụng lá mùa đông, nhà thơ dự cảm: “Lá rơi trên vai tôi/Hơi cây còn vẫn ấm/Giữa trời cây đứng nhận/Cả mùa đông về mình” (Cây rụng lá mùa đông). Và rõ ràng hơn: “Đôi khi/Đêm thanh vắng/Tôi nghe tiếng lòng tôi/Vang lên/Những cuộc đời/Về đất! (Đôi khi). Đến đây có sự chuyển hóa từ dự cảm của một người đã sang nhiều người, không chỉ thực tại, đó là còn là của lịch sử, quá khứ: “Hội làng mở/Anh gõ vào khánh đá chùa Keo/Đá vang lên cung bậc đá!” (Ở chùa Keo). Những điều ngỡ giản dị, yên ả, cảm thấy hạnh phúc khi thả mình ngắm hải âu, bồng bềnh phiêu lãng trên sóng biển, nhưng nhà thơ dự cảm: “Anh có nghe/biển dưới lưng/đang sóng/réo gào nỗi đau chạm bờ!” (Trên biển).
Sau những dự cảm là nỗi niềm trăn trở về thơ. Nguyễn Hoa tâm niệm thơ là từng con chữ được nhào nặn từ những “Mảnh vụn trái tim tôi”. Anh nói rõ ước mong của mình về thơ: “Sóng dạt dào: biển lớn/Thông vi vút: thông cao/Cỏ rì rào: cỏ bén/Tôi làm sao/Có biển lớn-thông cao-cỏ bén/Trong hồn”. Đi trên con đường dài với thơ, nếu nhà thơ không thổi hồn cho chữ, không điều khiển được con chữ, thì anh là “người tử trận”. Thơ là không thể ép buộc, phải từ tài năng và cảm xúc: “Thơ hiện lên/Như tiếng chim/Thảng thốt/Đầu đêm...Không đợi sáng!”. Với Nguyễn Hoa, thơ phải luôn mới, nhà thơ phải tìm tòi, sáng tạo, thực sự là “phu chữ” (từ dùng của nhà thơ Lê Đạt), vì “Có bài thơ/Đánh bóng tôi/Có bài thơ/Sẩm tối tôi”. Và trên hành trình với thơ, Nguyễn Hoa đã khẳng định được mình, bằng niềm yêu say mê, tài năng và sự trải nghiệm, hơn hết là “trong ánh sáng lạ tôi nhận ra tôi!”...
NGUYỄN ĐÌNH XUÂN
