Hoạt động kém hiệu quả
Nông nghiệp - Nông thôn - Ngày đăng : 04:46, 28/06/2014

Xã Hà Kỳ (Tứ Kỳ) đã có trạm cấp nước từ năm 2005 nhưng nhiều hộ dân vẫn chưa được sử dụng nước sạch
Xã Hà Kỳ (Tứ Kỳ) có 3 thôn Trạch Lộ, Đại Hà, Hà Hải. Năm 2005, trạm cấp nước (TCN) liên thôn Đại Hà - Trạch Lộ đi vào hoạt động với công suất thiết kế 450 m3/ngày, dự kiến cung ứng nước cho 1.300 hộ dân ở 2 thôn Trạch Lộ và Đại Hà. Riêng người dân thôn Hà Hải sử dụng nước từ TCN xã Hà Thanh. Theo ông Nguyễn Văn Coóng, Phó Chủ tịch UBND xã, hiện nay, công suất TCN này mới đạt 250-300 m3/ngày, cung cấp nước cho khoảng 720 hộ dân ở 2 thôn trên (chiếm 55% tổng số hộ). Như vậy, còn khoảng 580 hộ dân ở 2 thôn này vẫn chưa dùng nước sạch. Thực tế cho thấy một bộ phận người dân chưa có nhu cầu sử dụng nước sạch vì họ vẫn dùng nước mưa, nước giếng khoan... Tuy nhiên, còn nhiều hộ dân muốn dùng nước sạch nhưng TCN không thể đáp ứng do không có kinh phí đầu tư đường ống, đấu nối...
Do vị trí xa TCN nên khoảng 250 hộ dân ở đội 6 thôn Trạch Lộ và đội 5 thôn Đại Hà vẫn chưa có nước sạch. Chưa có nước sạch nên nhà ông Nguyễn Văn Tứ ở đội 6 thôn Trạch Lộ vẫn phải sử dụng nước mưa, nước giếng khoan, giếng khơi cho sinh hoạt hằng ngày. Vào mùa đông, nhà ông Tứ sử dụng nước mưa phải rất tiết kiệm, chỉ để dùng nấu ăn, đun nước uống. Việc giặt giũ phải sử dụng nước giếng khoan, giếng khơi.
TCN liên thôn Đại Hà - Trạch Lộ hiện phải bơm cách nhật để cung ứng nước cho từng thôn. Chẳng hạn, hôm nay bơm cấp nước cho thôn Đại Hà thì dừng bơm thôn Trạch Lộ và ngược lại vì nếu bơm cùng lúc cho 2 thôn, áp lực nước không đủ lên tầng 2 của nhà dân. Tỷ lệ thất thoát nước của trạm ở mức khoảng 20% do hệ thống đường ống đã bị xuống cấp, việc chống thất thoát nước chưa tốt. Nhiều hạng mục, thiết bị của trạm đã xuống cấp nhưng xã chưa có kinh phí đầu tư nâng cấp, thay thế.
Cần thay đổi mô hình quản lý
Thời gian qua, hoạt động của TCN xã Phượng Hoàng (Thanh Hà) cũng còn nhiều hạn chế. Ông Nguyễn Danh Lĩnh, Tổ trưởng quản lý TCN này cho biết: “Năm 2008 khi tôi sang nhận nhiệm vụ công tác ở TCN, hoạt động của trạm rất khó khăn. Lúc đó, hệ thống có hơn 200 điểm đường ống bị vỡ nước nên trạm bơm cả ngày lẫn đêm mà vẫn không đủ nước cung ứng cho người dân. Một số thiết bị còn bị kẻ gian lấy cắp”. Theo ông Lĩnh, hiện một số hạn chế đã được khắc phục song những khó khăn vẫn bộn bề. Nếu khai thác tối đa công suất thiết kế, TCN này có thể cung ứng nước cho 4 xã nhưng đến nay vẫn chưa cấp nước đến tất cả các hộ dân địa phương. Toàn xã hiện có 1.560 hộ dân dùng nước của trạm, chỉ chiếm 78% tổng số hộ. Tỷ lệ thất thoát nước còn ở mức cao, khoảng 22%. Do hoạt động gặp nhiều khó khăn nên số kinh phí trích khấu hao để tu sửa, bảo dưỡng máy móc cũng chẳng đáng là bao.
Theo thống kê của Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh, đa số các TCN do UBND cấp xã quản lý hoạt động chưa hiệu quả. Nhiều TCN có công suất hoạt động rất thấp so với công suất thiết kế. Chẳng hạn, so với thiết kế, công suất hoạt động TCN xã Hồng Lạc, TCN xã Quang Hưng chỉ đạt 67%, TCN xã Cẩm Chế đạt 82%. Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước ở nhiều TCN cũng rất thấp, ở TCN xã Vĩnh Tuy chỉ đạt 27,1%, TCN xã Lai Vu là 63,2%, TCN xã Cộng Hòa 72%. Trong 10 TCN do UBND xã quản lý, chưa có TCN nào tỷ lệ hộ dân đã dùng nước đạt đến 90%. Tỷ lệ thất thoát nước sạch ở nhiều TCN còn rất cao, ở mức 30-40% như: Việt Hồng, Cẩm Chế, Cộng Hòa, Lai Vu.
Nguyên nhân chính khiến các TCN hoạt động kém hiệu quả là mô hình quản lý của UBND xã chưa phù hợp. Thực tế cho thấy tại các địa phương đã giao quản lý TCN cho các doanh nghiệp hoặc HTX thì hoạt động hiệu quả hơn nhiều. Được biết, Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh đã đề nghị với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài chính không để UBND xã tiếp tục quản lý các TCN này mà cần thành lập mô hình quản lý mới (doanh nghiệp, HTX) có đủ năng lực vận hành, khai thác công trình.
NINH TUÂN
Theo Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh, toàn tỉnh hiện có 36 trạm cấp nước đang hoạt động được đầu tư từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn và vốn đối ứng của các địa phương. Hiện nay, việc quản lý các trạm cấp nước này có 3 mô hình, gồm doanh nghiệp, HTX và UBND cấp xã thành lập tổ dịch vụ trực tiếp quản lý. Trong đó, 10 trạm cấp nước đang được các UBND cấp xã quản lý trực tiếp, gồm: Hà Kỳ (Tứ Kỳ), Hồng Lạc, Việt Hồng, Cẩm Chế, Phượng Hoàng (Thanh Hà), Cộng Hòa, Lai Vu (Kim Thành), thị trấn Cẩm Giàng (Cẩm Giàng), Quang Hưng (Ninh Giang), Vĩnh Tuy (Bình Giang). |