Thơ với Đảng nặng duyên tơ
Dành cho người yêu thơ - Ngày đăng : 17:10, 25/02/2014
|
Bài thơ chỉ có tám câu, viết theo thể thất ngôn bát cú và được ngắt làm hai khổ thơ, mỗi khổ bốn câu. Ở khổ thơ đầu, tác giả vừa như bộc bạch công việc của mình làm Bí thư Trung ương Đảng, lại vừa như có ai đó thân tình vỗ vai hỏi: “Làm bí thư hoài có bí…thơ?”. Bởi chính dấu hỏi chấm (?) đặt cuối từ “thơ” giúp người đọc dễ suy ra thế. Câu thơ bỗng từ thật trăm phần trăm sang vừa hư vừa thật, mở đường cho người đọc suy ngẫm cùng nhà thơ. Và như thế, tứ thơ cũng trở nên thoáng đãng hơn. Đọc câu tiếp theo thì càng rõ ai đó vỗ vai nhà thơ hỏi, khi nghe nhà thơ trả lời: “Rằng: Thơ với Đảng nặng duyên tơ”. Ví quan hệ giữa thơ với Đảng - Đảng với thơ nặng như mối “duyên tơ” thì đúng là chỉ có Tố Hữu mới có thể xác lập được mối quan hệ nhân tình và triết luận như thế. Bởi ai cũng biết, cặp từ duyên tơ, hay tơ duyên thường được dùng để chỉ mối quan hệ gắn bó keo sơn của những mối tình duyên chồng vợ, hay sắp thành chồng vợ. Và đó không chỉ là mối tình thông thường mà còn là mối tình đẹp và sâu sắc đến “nặng duyên tơ” thì lại càng đẹp lên gấp bội. Chỉ với một câu thơ mộc mạc như lời nói: “Rằng: Thơ với Đảng nặng duyên tơ”, nhưng nhà thơ đã xác lập được mối quan hệ máu thịt không chỉ riêng giới nhà thơ với Đảng, mà còn là của toàn dân tộc Việt Nam ta với Đảng quang vinh. Với mối quan hệ nhân duyên ấy, Tố Hữu đưa ra một nhận định mang đầy sự liên tưởng, vừa thực lại vừa ảo, giữa con thuyền và người cầm lái, để từ đó nêu bật sự tất yếu của mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và thơ nói riêng, và rộng ra là giữa Đảng và nhân dân ta nói chung: “Thuyền bơi có lái, qua mưa gió/Không lái thuyền trôi, lạc bến bờ...”. Đấy là một sự hiển nhiên mà ai cũng biết, nhưng chỉ khi đọc câu thơ của Tố Hữu thì bỗng nhận ra sự mới lạ đầy nhân tình và một triết luận sâu sắc qua cách cảm, cách nghĩ mà nhà thơ mang đến cho người đọc. Ở đây một lần nữa thấy rõ tài nghệ thơ Tố Hữu qua cách tổ chức, kết cấu thơ, chỉ với hai câu được viết chặt chẽ và niêm luật, nhưng lại là cả sự khái quát mang đầy tính triết luận đời thường, lại rất đối xứng ý tứ trong từng câu chữ giữa hai câu thơ.
Tiếp đến khổ thơ thứ hai, Tố Hữu hầu như dành để “trả lời” người hỏi: “Làm bí thư hoài có bí…thơ”, với giọng ân tình, chân chất, nhà thơ không ngần ngại nói thẳng: ““Nghề” bí thư đâu chuyện giấy tờ”, mà với công việc hằng ngày, kể cả đọc công văn, báo cáo vẫn thấy như hiện về bao hoạt động sôi nổi ngoài đời: “Lắng nghe cuộc sống gọi từng giờ”. Phải là người lãnh đạo, người cán bộ có trái tim dễ rung động trước niềm vui, nỗi buồn của nhân dân, và chỉ có một trái tim như thế mới thấu hiểu và đồng cảm với nhân dân, để từ đó gắng sức làm trọn phận sự “công bộc của dân” như Bác Hồ dạy. Và cũng chỉ như thế thì dẫu vừa là lãnh đạo, vừa là nhà thơ thì vẫn thấy yêu đời, vẫn lạc quan sống và làm thơ hết mình, bởi như thế cuộc đời mới đích thực là thơ: “Càng thấu nhân tình nên vẫn thơ!”. Còn như ai đó để “tim cứng thành con dấu” vô cảm trước sướng vui, đau khổ của nhân dân thì chẳng những không thể có thơ đích thực, mà không thể xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, của dân.
Thơ Tố Hữu thường từ nỗi niềm, tâm trạng, suy nghĩ của một người ra nhiều người, nói cái tôi mà thực ra là để nói cái ta (chúng ta) với một tầm khái quát cao, vừa chứa đựng sự rung cảm, xúc động lẫn triết luận như một chân lý sống và làm việc, cư xử với nhau trong cộng đồng. Và trong bài “Chuyện thơ” cũng thế, không chỉ nói mối quan hệ giữa Đảng và thơ, thơ và cuộc sống, mà rộng ra còn nói tới mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, nói tới cách sống, cách tiếp cận giữa người cán bộ với nhân dân, và với người cán bộ thì chỉ có khi nào tắm mình vào cuộc sống của nhân dân, vui niềm vui của nhân dân, buồn nỗi buồn của nhân dân thì khi đó mới thực sự tìm thấy niềm vui, hạnh phúc cho mình.
CAO NĂM