Làng bốn mùa xuân

Nông nghiệp - Nông thôn - Ngày đăng : 17:45, 12/02/2013

Làng tôi dường như quanh năm một mùa xuân.



Người dân làng Trực Trì giàu lên nhờ nghề làm hương. Ảnh: CHUNG THÀNH


Tôi nói thế, bởi làng tôi là một làng nghề, một nghề lúc nào cũng làm cho người ta nhớ tới mùa xuân, lễ tết và hội hè. Đó là nghề làm hương.

"Chỉ một động tác thôi, cả bó hương ấy, các nén hương tự kê lên nhau như một cái quạt giấy, hoặc như một bông hoa nở rất đều, tròn vo. Thành ra đi khắp làng là đi giữa hai hàng hoa kỳ diệu ấy.

Từ khoảng năm 1920 trở về trước, làng tôi có tên là làng Điền Trì, xã Hộ Xá, tổng Đột Lĩnh, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, sau năm 1945 thì có tên là làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, ngắn gọn vậy thôi, một làng thuần nông, nghèo đói và lụt lội đến ghê người. Các cụ xưa có câu: “Một trăm cái tội không bằng cái lội làng Trực Trì”. Tôi nhớ năm 1949, khi tôi 5 tuổi, mùa lụt tháng 8, mẹ tôi dắt tôi đi trên đường làng mà nước ngập đến ngang ngực mình, chỉ sảy chân là có thể nguy to.

Làng tôi trưởng thành dần qua hai cuộc kháng chiến, nhưng vẫn nghèo. Vậy mà mới qua hai sáu năm đổi mới, làng tôi giàu lên rất nhanh, dù vẫn mảnh đất ấy, con người ấy. Cũng từ đấy, khác với nhiều làng quê quen thuộc khác ở miền Bắc có bốn mùa rõ rệt, làng tôi dường như chỉ có một mùa, đó là mùa xuân, một mùa xuân quanh năm. Tôi nói thế, bởi làng tôi là một làng nghề, một nghề lúc nào cũng làm cho người ta nhớ tới mùa xuân, lễ tết và hội hè. Đó là nghề làm hương.

Theo ông Trần Quang Minh, người trưởng thôn rất được mến mộ của làng tôi, từ năm 2009, UBND tỉnh đã có quyết định công nhận Trực Trì là làng nghề và đầu tư kinh phí cho làng đổ một con đường bê-tông dài khoảng 600 mét, nối từ đầu làng ra đến quốc lộ 37, để xe các loại dễ dàng chở hương đến các vùng miền trong cả nước. Con đường làng nghề ấy đi xuyên qua làng, chạy qua giữa sân kho HTX trước đây, cái sân kho mà Trần Đăng Khoa năm 8 - 9 tuổi đã mô tả và được nhà thơ Xuân Diệu nhiệt thành biểu dương, đọc trên phim truyền hình Pháp năm 1968: “Sân kho máy tuốt lúa/Mở miệng cười ầm ầm/Thóc mặc áo vàng óng/Thở hí hóp trên sân.” Cái sân kho đã đi vào thơ và có lẽ sẽ còn được nhớ đến rất lâu dài sau này, giờ vẫn gọi là sân kho, dù cái kho thóc của HTX từ lâu đã bị phá đi rồi vì nó thừa hẳn ra khi làng quê thực hiện “khoán mười”, trả ruộng về cho các hộ. Cái sân rộng mênh mông, ngày nào lát gạch để phơi thóc, nay đổ bê-tông để phơi hương và phơi nguyên liệu làm hương. Nguyên liệu làm hương gồm rễ cây hương bài nhập từ Thanh Hóa, giá khoảng 70 nghìn đồng một kg, quế và hồi nhập từ Quảng Ninh, còn tre làm hương thì nhập về từ Hà Tây cũ (nay là Hà Nội) và bã mía thu gom từ các nơi. Người làm hương đầu tiên của làng, loại hương đen, là ông Mai Xuân Thấy mà tôi gọi bằng chú, vợ ông là em họ mẹ tôi. Ông có 3 con, con trai đặt tên là Thơm, lấy đó làm trung tâm, để đặt tên hai cô con gái là Ngát và Tho. Nghĩa là hương thơm tho, hương thơm ngát cả làng. Ông Thấy đã qua đời, hai con ông là Thơm và Ngát cũng đã mất, nhưng cô Tho thì vẫn còn, nhà ở cổng nhà tôi, tuổi cũng đã cao. Một người yêu nghề đến mức ấy, đặt tên cho các con mình theo hương vị của nghề, có lẽ cũng không mấy ai. Nhưng cái nghề phát triển, đến mức cả làng thành một làng nghề hiện nay, có thể vì mùi hương thơm ngát, thơm tho, nhưng cái chính là bởi cái giá trị thị trường của nó. Khi tôi hỏi ông trưởng thôn Trần Quang Minh là làng mình có xuất khẩu hương ra nước ngoài không, ông cho hay là chưa thống kê được và nếu có thì đều qua trung gian, chứ các hộ làm hương của làng chưa có ai ký hợp đồng với một hãng buôn nào ở nước ngoài.

Làng tôi giàu lên là bởi làm hương. Tất nhiên lúa và màu vẫn rất quan trọng để bảo đảm “an ninh lương thực”. Trong năm 2012, 32 ngôi nhà mới đã xây theo kiểu biệt thự Đà Lạt. Tôi gặp Cư ở ngay sân kho phơi hương, khi từ xe bước ra. Cư gọi tôi bằng chú. Cư vỗ luôn vào cái xe đỗ trước mặt tôi, nói: "Xe này cũng là từ hương mà ra đấy, chú ạ !”. Tôi mù tịt về các loại xe, chỉ thấy một con xe 4 chỗ ngồi, bóng loáng và rất lịch sự. Anh Cừu, anh con bá họ của tôi, được coi là người giàu nhất làng, do làm hương và hai con trai của anh, mỗi người đều có một xe con riêng. Ở cái làng quê “một trăm cái tội…” như câu ca xưa, mà bây giờ, xe con 4 chỗ của trai làng lượn ra lượn vào, chả phải là một trang đời rất “hoành tráng” đã mở ra đó ư, mà trước đổi mới, có nằm mơ cũng không ai dám nghĩ tới. Không riêng sân kho, hai bên lề các ngả đường bê tông trong các xóm, đều phơi hương. Các “bếp” làm hương đã có máy lăn hương, máy bắn hương, người lao động đỡ vất vả trong việc tẩm thuốc, mà năng suất lại rất cao. Tôi rất phục các cô gái làng. Cầm bó hương vừa tẩm thuốc thơm xong, xoay thế nào mà chỉ một động tác thôi, cả bó hương ấy, các nén hương tự kê lên nhau như một cái quạt giấy, hoặc như một bông hoa nở rất đều, tròn vo, chân hương chéo nhau chịu lực để phần hương tẩm thuốc được phơi cao trong khoảng không trên mặt bê tông, cho chóng khô, đầu nén hương cách mặt bê tông khoảng 10 phân rất đều nhau. Tài thật. Thành ra đi khắp làng là đi giữa hai hàng hoa kỳ diệu ấy, trải dài, hoặc đỏ nhạt hoặc vàng, cái màu vàng thường thấy trên áo Phật, thơm đến mức quần áo và râu tóc đều nhuốm mùi thơm. Chao ơi, một làng quê thơm tho, tươi đẹp xiết bao.

Theo đồng chí Trần Đức Bá, Bí thư Đảng ủy xã, một trong những cán bộ đại diện cho thế hệ lãnh đạo mới, trẻ trung và năng động, không chỉ có thôn tôi, mà cả xã có đến 3/4 tổng số hộ làm nghề. Ngoài làm hương còn làm mây tre đan. Thu nhập toàn xã năm 2012 trên 130 tỷ đồng, bình quân mỗi đầu người 15 triệu 400 nghìn đồng. Xã có trên 100 đầu xe ô-tô để vận chuyển hàng hóa và chở khách, có xe chạy suốt Bắc Nam. Một “chủ bếp hương” cho tôi hay, lương bình quân nơi ông, nếu chấm công hằng ngày là 3 triệu đồng, còn làm khoán là 5 triệu đồng một người một tháng. Điều rất hay là từ trẻ đến già, ai cũng có thể làm hương được, có nhà đến 5 người đều làm hương, tháng thu nhập 15 triệu đồng.

Khi tôi viết những dòng này tại quê nhà, là lúc những chiếc xe tải cỡ nhỏ, những chiếc xe máy phân khối lớn chất đầy hương, lần lượt chở từng núi hương ra khỏi làng. Những cây hương của làng tôi đã đi khắp nơi. Và những giọt mưa xuân đầu tiên của năm mới đã lửng lơ bay như khói trên tầng thượng các ngôi nhà cao tầng ở làng tôi. Cả làng đón một mùa xuân nữa đã về trong làng bốn mùa xuân, mà “hoa hương” tháng nào cũng nở đều, mà hương hoa ngày nào cũng thơm ngát.

TRẦN NHUẬN MINH