“Chống lạm phát không chỉ là rút tiền về”

Thị trường - Ngày đăng : 07:38, 09/06/2011

Chống lạm phát phải đi theo hướng tăng cung hàng hóa và dịch vụ có chất lượng cho tiêu dùng, tăng năng suất lao động, giảm phụ thuộc vào xuất-nhập khẩu, khai thác mạnh thị trường nội địa... chứ không phải là rút tiền về.

Đà tăng lạm phát tháng 5-2011 đã giảm so với tháng trước, nhưng nếu nhìn qua đồ thị thì đó vẫn là cột dựng đứng theo thời gian. Hết tháng 5-2011, cột lạm phát đã cao tới 12,07% so với ngày 31-12-2010; 19,78% so với cùng kỳ 2010 và 45% so với 31-12-2007, bình quân 1,09%/tháng.

Diễn biến thực tế là trong suốt 3 năm 5 tháng qua, kể từ 31-12-2007, chưa có tháng nào lạm phát bằng 0 hoặc âm, chỉ có tốc độ tăng cao, thấp khác nhau. Như vậy, bình quân lạm phát trong gần 3 năm rưỡi tăng tới 13,15%/năm, trong khi GDP bình quân theo năm của cùng thời kỳ chỉ tăng 6,1%/năm, bằng 46,4% tốc độ tăng lạm phát (năm 2008, GDP tăng 6,23%; 2009: 5,3% và 2010: 6,8%).


Nguy cơ suy thoái kéo dài có nguyên nhân căn bản không phải từ phía thị trường tài chính

Quá phụ thuộc vào vốn

Từ góc nhìn lãi suất, cũng trong quãng thời gian đó, lãi suất đã tăng liên tục với nhiều cuộc chạy đua. Đầu tiên là tăng lãi suất huy động để chống lạm phát, tránh rủi ro thanh khoản; sau là tăng lãi suất huy động để chống lãi suất thực âm của người gửi..., làm cho thị trường tín dụng đầu ra không ngừng tăng. Hiện, lãi suất cho vay đã lên tới mức 20%/năm.

Tiếp đến là thị trường ngoại hối. Những năm qua, việc chống đô la hóa rất yếu đã khiến cho thị trường tín dụng ngoại tệ "sôi động" hơn cả tín dụng nội tệ. Tới những tháng đầu năm 2011, bằng những quyết sách mạnh mẽ đã có tác động tích cực vào thị trường tín dụng ngoại tệ và tín dụng vàng, làm dịu tình trạng hỗn độn của thị trường tín dụng trước đó.

Các diễn biến trong những năm qua đã và đang chứng tỏ một nền kinh tế quá phụ thuộc vào vốn, năng suất lao động thấp, cơ cấu tiền - hàng bất hợp lý, hiệu quả đồng vốn quá thấp và tiền ít chảy vào ngân hàng, ít chảy vào sản xuất mà lại chạy lòng vòng vào đầu cơ phi sản xuất, đẩy giá cả hàng hoá, dịch vụ liên tục cao.

 Nhìn vào thị trường chứng khoán thấy đang xuất hiện các nỗ lực “tự cứu” của các doanh nghiệp phát hành, bằng cách mua vào cổ phiếu của chính mình làm cổ phiếu quỹ. Tuy là hành vi “cực chẳng đã”, nhưng là khá hiệu quả vào lúc này để giữ giá cổ phiếu và không ảnh hưởng đáng kể đến "sức khoẻ" của doanh nghiệp phát hành. Trên thị trường chứng khoán cũng đang xuất hiện các thương vụ đầu tư chéo bằng cách các doanh nghiệp có liên quan mua cổ phiếu của nhau để giữ giá cổ phiếu cho nhau, hoặc thâu tóm, sáp nhập thực sự để doanh nghiệp hay công ty nhỏ trở thành công ty lớn hơn hay công ty bé trở thành công ty con của công ty lớn hơn...

Cũng trên thị trường chứng khoán, một biểu hiện khác theo chiều hướng tiêu cực đang xuất hiện, đó là hiện tượng xin rời sàn ngay cả khi doanh nghiệp niêm yết vẫn đang làm ăn có lãi. Nếu cơ quan quản lý Nhà nước không tỏ thái độ rõ ràng bằng pháp lý thì sẽ tạo ra tiền lệ: “chộp giật” xong, doanh nghiệp sẽ bỏ mặc cổ đông nhỏ lẻ, nhất là cổ đông thứ cấp, dẫn đến hệ lụy "giết chết" niềm tin đối với thị trường chứng khoán.

Mất cân đối nghiêm trọng

Xu hướng lạm phát cao phát ra từ thị trường chứng khoán cho thấy, những nguy cơ suy thoái kéo dài có nguyên nhân căn bản không phải từ phía thị trường tài chính, mà là từ thị trường sản xuất, dịch vụ vật chất. Cho nên, nếu không có những giải pháp chống lạm phát bằng cách tăng cung, tăng năng suất lao động nội địa, thay vì cứ vẫn loay hoay sử dụng chính sách giảm tổng cầu thì lạm phát vẫn rất cao, không có điều kiện cho các ngân hàng thương mại giảm được lãi suất vì giá vốn vẫn thực âm.

Từ các biểu hiện trên, cũng có thể nhận diện nền kinh tế thị trường nước ta hiện đang trong tình trạng mất cân đối nghiêm trọng giữa kinh tế giá trị phát triển mạnh (tổng đầu tư xã hội lớn, lạm phát cao) và kinh tế vật chất trì trệ (tổng gia tăng ròng giá trị hàng hoá bán lẻ theo giá kỳ gốc thấp). Do đó, việc giải bài toán chống lạm phát hiện nay cần căn bản đi theo hướng tập trung tăng cung hàng hóa và dịch vụ có chất lượng cho tiêu dùng, tăng năng suất lao động, giảm phụ thuộc vào xuất-nhập khẩu, khai thác mạnh thị trường nội địa... chứ không phải chỉ là vấn đề rút tiền về. Thậm chí, cần khơi thông các dòng chảy của vốn một cách hợp lý bằng công cụ chính sách tiền tệ và cả chính sách đầu tư hợp lý vào những nhóm, ngành hàng tiêu dùng và hàng thay thế nhập khẩu trong nước.

Rõ ràng là nếu cứ với năng suất lao động quá thấp như thế này, thì việc chống lạm phát không còn là việc của Ngân hàng Nhà nước nữa, vì Ngân hàng Nhà nước không thể ra lệnh cho xã hội phải tăng năng suất lao động.

TS Nguyễn Đại Lai (nguyên Phó vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng)