Đứa con bỏ chợ

Truyện ngắn - Ngày đăng : 06:54, 21/08/2010



Đã một phiên chợ, sáng nay, anh mới bế thằng bé chơi rong dọc hành lang các quán hàng. Anh khích lệ nó:
- Nào, con chào các bà, các mẹ, các chị nuôi đi. Thằng bé đã quen nên nó chào bằng tiếng cười khanh khách, giơ hai bàn tay nhỏ xinh xinh vẫy vẫy. Các chủ hàng đồng loạt nhìn bố con thằng Nghĩa, vui vẻ:
- Đã mấy hôm nay mới thấy bố con nhà Nghĩa ra thăm chợ. Này Nghĩa, bà vẫn dành cho cháu mấy dây sữa Mộc Châu.
- Nào, thằng Nghĩa ra mẹ nuôi đón. Ba bộ quần áo bác Chinh gửi cho con đây.
- Chị bế em chút nào. Gớm hàng quán bận quá chẳng ra thăm em được. Đây, phần  của bé chị vẫn dành cho em- chị hàng hương đưa một gói bánh to đùng vào hai tay nó. Nghĩa cười khoái chí.

Cô hàng mắm mọi hôm vẫn mang bầu vú đến tận nhà cho thằng bé, mấy hôm nay bận bịu vẫn phải vắt đi cho đỡ nhức. Bây giờ thằng bé ra đúng lúc nhưng hai tay cô dính đầy mắm. Cô không ngại ngùng, ngửa hẳn người bảo bố thằng bé: "Vạch vạt áo lên giúp em cho cháu bú. Không việc gì mà ngại. Cái vú là cục thịt chứ là cái quái gì mà   quan trọng".
- Này bố con Nghĩa, lại đây chú dành cho chai thuốc bổ phế. Mà anh Nhân chú ý cho cháu, dịp này địa phương nhà đang có dịch ỉa chảy. Có triệu chứng ra đây em giúp cháu miễn phí. Chiều nay em cho cháu Lan ra trông Nghĩa giúp anh, sáng mai đi học về đến lượt cháu Dung con cô Vân... Bà Vượng cắt lịch rồi.

Cứ thế, hơn một năm nay các chủ sạp hàng trong các dãy quán chợ Vạc đã góp phần chăm nuôi thằng Nghĩa cùng anh.

Nhớ hôm anh nhặt nó từ đống rác sau chợ, đỏ hỏn như con chuột mới sinh, khóc re ré như mèo hen. Anh ôm nó về lau rửa thay tã mới. Anh cho nó mút bầu sữa cao su, mồm há tròn như con sáo, nó đói quá. Bụng căng tròn, đôi mắt có đôi tròng đen sáng long lanh.  Rồi nó nở nụ cười Mụ dạy. Nó nằm im thau tháu trong lòng anh, anh thấy yên tâm. Bỗng những kỷ niệm xưa với người vợ hiền ùa về.

Bấy giờ anh cưới Phương trước khi lên đường hai tháng. Những đêm nồng nàn bên anh, Phương khao khát có một thằng cu để khi anh vắng nhà đỡ nhớ nhung. Thế mà ước mong đó không thành, nay đứa bé trong lòng khiến nỗi nhớ Phương trào dâng. Nước mắt chảy quanh vành mi. Anh tự hỏi, hay trời dun dủi đưa đứa bé này thay vào lỗi khát khao đó của Phương cho anh. Đây có phải là một thử thách tình yêu của anh với Phương?

Anh bế đứa bé vào cạnh bức tượng Phương- người vợ hiền mà từ khi đưa từ Thái Lan về, anh vẫn để trên chiếc  kệ đầu giường để anh luôn trông thấy, sờ thấy: "Em đồng ý nhận đứa bé này là con của chúng mình như em đã từng ước ao. Được em nhất trí, anh sẽ quyết tâm nuôi nó nên người. Mong em phù hộ cho con hay ăn chóng lớn..."

Quả là lúc đầu mọi người ái ngại cho anh. Đàn bà có vú nuôi trẻ còn khó huống hồ đàn ông: "Con ở với bà, bà không có vú, con ở với chú, chú là đàn ông". Đã thế, anh còn là thương binh cụt cả bàn tay nữa chứ. Nhưng rồi thấy anh quyết tâm, các bà, các chị ngồi chợ, mỗi người một chút thơm thảo thêm vào. Bây giờ nó lẫm chẫm đi, càng lớn càng kháu khỉnh, ai trông mà không thích. Thôi thì thế cũng được. Vợ đã không lấy có một đứa làm vui, sau này tuổi già có chỗ dựa. Còn nhớ ngày ở chiến trường về, vợ không còn, mọi người khuyên anh ta lấy vợ, anh ta không nghe. Thậm chí có cả cô gái xinh xẻo làng Vạc đến thách chủ: "Anh lấy em, chỉ cần cho em vài đứa con, nhà đất bên thày mẹ em vô tư". Nhưng anh chỉ vào bức tượng Phương được tạc bằng thứ gỗ quý nhất là tình yêu: "Tôi chỉ có một mình Phương là vợ".

Thời chiến tranh biên giới phía nam, tại chiến trường biên giới Cam-pu-chia-Thái Lan, trong trận chiến đấu ác liệt, anh bị thương ngất xỉu. Khi tỉnh dậy anh đã thấy mình nằm trên giường nệm trắng nhà một nghệ nhân chạm khắc gỗ Việt kiều Thái Lan. Ông kể, buổi sáng ông vào rừng kiếm gỗ quý về khắc tượng đã cõng anh về trong trường hợp bất tỉnh. Hơn hai năm khi vết thương lành gia đình nghệ nhân muốn giữ anh lại làm chàng rể với cô gái đầu đang là sinh viên đại học mỹ thuật Băng Cốc. Anh nhất định phải về Tổ quốc với người vợ hiền của mình. Trong thời gian đó, Nhân đã  vừa chữa bệnh vừa học chạm khắc gỗ. Được cha con người nghệ nhân hướng dẫn, sự quyết tâm, qua trí nhớ và tình yêu nồng nàn, hình ảnh Phương hiện lên sau mỗi nốt chạm vào gỗ. Này, đôi mắt, đôi môi đang cười, này suối tóc có lần Phương đã cắt bớt bán lấy tiền mua cho anh bộ hồ sơ thi vào đại học, này đôi tay mát dịu mỗi lần thoa lên má anh. Cả chiếc áo mỏng choàng ngoài của Phương nữa làm sao phải lột tả được sau nét chạm khắc. Cứ thế anh đã ngày đêm miệt mài. Mặc dù phải kẹp chiếc đục vào khuỷu tay, tay kia cầm dùi... và đã thành công. Cha con người nghệ nhân hết sức ngạc nhiên, khen ngợi: "Đường nét tinh xảo, pho tượng rất có hồn". Bức tượng trên ba lô theo anh suốt mấy ngàn cây số. Ngồi trên xe trong đêm anh thường ôm lấy bức tượng với bao nhiêu sự háo hức ước mơ. Chắc em ngạc nhiên lắm khi thấy anh đột ngột xuất hiện trước cửa nhà. Em sẽ ôm chặt lấy anh, nước mắt tràn sang má anh mà trách rằng: "Tại sao hơn hai năm không có thư cho em, hay là anh đã vui chốn nào, tại sao về không báo trước cho em?". Anh sẽ hôn lên đôi môi, đôi má em cả ngàn lần trả lời rằng: "Anh muốn để cho em sự bất ngờ và càng bất ngờ thấy trên ba lô của anh có một cô gái giống em như đúc. Em sẽ sung sướng. Và em sẽ sinh cho anh một trai, một gái. Gái giống em, còn trai giống anh chàng chợ Vạc. Em tiếp tục trồng cấy, nông nghiệp là hàng đầu mà em. Còn anh sẽ mở quán hàng, buôn bán, phi thương bất phú, được không em? Anh sẽ hôn em đến bạc đầu...

Con đường trải nhựa rộng thênh thang thẳng như sợi chỉ đặt chạy qua làng Vạc. Chợ Vạc đã thức tỉnh, một vùng quê vốn lam lũ đói nghèo lạc hậu bừng lên nhịp sống mới. Bắt đầu từ những cánh đồng năng suất kém biến thành vùng rau quả chuyên canh bốn mùa thu hoạch, từ những vùng đầm hồ quanh năm bèo cỏ biến nhanh thành những trại chăn nuôi lợn, gà, cá, ếch... Người làng Vạc biết làm hàng hoá. Chợ Vạc nhanh chóng thành trung tâm thương mại trong vùng. Nhân, thương binh cụt tay từ ngày ở chiến trường về, anh vẫn sống bên bức tượng người vợ trong một quán nước lèo tèo bên chợ trước sự phát triển mới của làng Vạc. Vốn  là cựu chiến binh thẳng thắn chung thuỷ, anh được người làng Vạc tin yêu và cử vào ban kiểm soát nâng cấp chợ Vạc. Có trí tuệ và nhiệt tình của anh, ngôi chợ khang trang, bề thế. Hai dãy quán đá xiêu vẹo dột nát xưa được tôn tạo thành sáu dãy quán gạch, mái tôn được dựng mới, đường đi lối lại bê-tông. Một khoảng đất rộng trước chợ thành bến xe đậu trao đổi hàng hoá. Do đó sau khi khánh thành, Nhân được cử vào ban quản lý chợ Vạc. Anh sắp xếp hàng quán thứ tự, xây dựng quy chế chợ, hàng ngày mỗi buổi họp chợ trên tay anh là chiếc loa điện điều khiển phiên chợ như điều khiển một trận đánh và do đó sinh hoạt chợ đi vào nền nếp. Người mua, người bán hoà thuận vui tươi. Chợ Vạc được nhận bằng chứng nhận Chợ Văn Hoá. Những đồng đội chiến đấu năm xưa nay là giám đốc, phó tổng giám đốc các doanh nghiệp đã gom góp giúp anh xây dựng ngôi nhà tầng khang trang bên chợ, tạo cho bố con Nhân-Nghĩa việc làm có thu nhập khá bằng cách ký các hợp đồng với anh thu mua các sản phẩm nông nghiệp của làng Vạc. Chiều nào, khoảnh đất trước cổng chợ cũng trở thành nơi thu mua, khi lợn, gà, khi rau củ. Làng Vạc giàu nhanh như mơ. Khu chợ Vạc trở thành khu phố. Người chợ Vạc càng thương yêu anh, giúp đỡ bố con anh. Từ đấy, ngày giỗ vợ anh hằng năm bà con xóm chợ cắm đầy hoa tươi bên bức tượng của Phương, còn cha con Nhân-Nghĩa khăn trắng chắp tay cúi đầu tạ ơn người xóm chợ.
Mỗi lần như thế anh không thể quên được:

Chiều ấy bà con xóm chợ thấy anh bộ đội khoác ba lô hăm hở bước về, miệng vui cười. Các bác không nhận ra con sao. Nhân, anh Nhân còn sống thật mà. Họ reo lên. Nhưng khi phát hiện bức tượng trong ba lô của anh giống vợ anh thì họ ôm lấy bức tượng khóc nức nở. Biết có chuyện chẳng lành, Nhân hỏi dồn dập: "Sao, sao, vợ tôi sao rồi!". Anh đã ngất đi sau khi được người xóm chợ vừa khóc vừa kể sự việc: "Sau chiến tranh Biên giới phía Nam đã hai năm chẳng có tin tức gì về Nhân, Phương đã đi khắp nơi tìm hiểu tin tức về người chồng của mình. Một đồng đội nói trận truy quét tàn quân Pônpốt biên giới Cam-pu-chia- Thái Lan giữa rừng sâu vài đồng đội hy sinh, Nhân bị thương được băng bó tạm ngồi lại gốc cây bên rừng đợi đơn vị trở lại đón. Nhưng trong đêm đơn vị đi lạc đường. Sáng đơn vị cho quân toả đi tìm. Trở lại chỗ cũ chỉ còn thấy vết máu đêm qua. Người dân khu vực nói ở đấy có hổ báo dữ. Tin ấy đã khiến Phương sốc mạnh, nấc lên và ngất đi mãi mãi không tỉnh dậy nữa. Người chợ Vạc ai cũng nước mắt vòng quanh chịu tang như người ruột thịt. Hình bóng Phương hiện lên trong tâm trí người xóm chợ. Một cô gái trẻ ngày mải làm đồng, trưa tối giúp mấy cụ bà hoàn cảnh éo le. Khi gánh đầy vại nước cho bà Lân,  mẹ liệt sĩ, lúc tranh thủ phơi rơm rạ lên đống cho cụ Chum nhà bên, bế giúp thằng Còi suốt ngày khóc quấy mẹ... Rồi bát cơm, bát canh, rổ khoai nước, xóm giềng Phương cứ tong tả chia đều cho mọi nhà...

Thằng Nghĩa lớn lên cùng với sự đổi thay của xóm chợ, ngồn ngộn như cây măng rừng trong mưa. Thế là nó đã mười mấy tuổi, còn cha nó, ông Nhân cũng đã ngoài sáu mươi. Kể thì tuổi ấy thời giờ chưa gọi là già. Nhưng chất độc màu da cam ngày đơn vị anh qua bãi bom mìn Tây Ninh vào Cam-pu-chia đang hoành hành, cộng với vết thương mất một tay mỗi khi thời tiết thay đổi, ông cảm nhận không tồn tại được lâu trên cõi đời. Một tối trên giường bệnh ông thấy cần thiết phải trả lời câu hỏi thằng Nghĩa bấy nay vẫn luôn hỏi ông rằng, các cụ sinh ra bố là ai, ở đâu. Giờ này ông không thể giấu nữa, ông hạ giọng nho nhỏ: "Con à, cũng số phận như con. Cách đây sáu mươi tư năm, bà cụ buôn đồ sành đã nhặt bố từ trong chiếc nồi đất của bà ở góc chợ Vạc này vào một buổi sáng sớm khi bà chuẩn bị hàng bày bán. Bà nuôi bố được tám tuổi thì bà qua đời, bố phải quét chợ sau đó thổi bễ thuê cho cụ phó ẩm thợ rèn kiếm ăn... Con phải nhớ rằng, đời này còn có những đứa được sinh ra từ mối tình tay ba, tay tư, từ dâm loạn từ đồng tiền, địa vị... rồi người ta đem bỏ chợ. Dẫu sao đó cũng là sinh linh phải được bình đẳng, phải được sống và phát triển như những người khác, biết đâu sau chẳng là một người cứu nhân độ thế sống cuộc đời có ý nghĩa gấp triệu lần những người sinh ra nó. Gặp trường hợp đó con phải đem sức cứu mạng họ".

Nghe đến đó, thằng Nghĩa hết sức xúc động ôm lấy bố sụt sùi: “Thì ra bố con mình đều là những đứa con người ta đem bỏ chợ!". Từ hôm đó, như một thói quen, sau mỗi buổi học về thằng Nghĩa lại ra bới đống rác sau chợ. Biết đâu hôm nay lại có một sinh linh người ta đem bỏ chợ?

Truyện ngắn của NGUYỄN LONG NHIÊM