Giếng làng một thuở
Xã hội - Ngày đăng : 14:51, 26/04/2020
Sân đình, giếng nước, gốc đa đã trở thành biểu tượng của hồn làng trong tâm thức mỗi người dân quê. Đó không chỉ là nơi diễn ra những sinh hoạt cộng đồng, nơi tụ họp của già trẻ gái trai mà không gian thân thuộc ấy đã trở thành chứng nhân cho biết bao mối tình, là cầu nối cho nhiều lứa đôi nên duyên chồng vợ. Đi xa về, ai cũng thèm cái cảm giác được vục hai bàn tay vào gầu nước mát lành, ngọt lịm, múc lên từ giếng làng để rửa sạch bụi bặm mồ hôi, để nghe lòng mình thức dậy những kỷ niệm êm đềm một thuở. Cảm xúc ùa về khiến tim mình bỗng dưng xốn xang, bình yên đến lạ.
Tôi lớn lên, chẳng biết giếng làng mình có tự bao giờ. Giếng được đào rộng, to gấp nhiều lần cái miệng giếng khơi của mỗi gia đình. Giếng làng hình tròn, xung quanh và thành giếng được xây gạch, có các bậc đi xuống. Nước giếng trong vắt, bốn mùa đầy ăm ắp. Mỗi khi nhà ai có công to việc lớn là các cô thiếu nữ lại quẩy đôi thùng ra giếng múc nước về dùng. Tiếng cười đùa, tiếng gọi nhau í ới xôn xao cả một góc làng. Nước giếng để nấu cơm, thổi xôi cho hạt gạo trở nên mềm dẻo, ngọt bùi. Nước giếng để gội đầu cho mái tóc các cô thôn nữ dài mượt, óng ả và đen nhánh... Nước giếng của làng không thể thiếu với mỗi gia đình bởi ai cũng nhận ra nước ở giếng làng ngọt hơn, trong hơn nước giếng nhà.
Phải chăng có một điều gì đó thiêng liêng, huyền bí nên giếng làng trở thành nơi hò hẹn, nơi chứng giám những lời tỏ tình của trai gái yêu nhau. Ban ngày là những ánh mắt đưa tình, vội vã. Buổi tối trăng lên, tỏa ánh vàng lóng lánh mặt giếng là lúc đôi lứa tâm tình. Cả một không gian thơ mộng, bình yên đã nói hộ những điều thầm kín tự đáy lòng của họ.
Ông nội bảo, nhờ giếng làng nằm ở thế đất đẹp, mạch nước ngầm không bao giờ vơi cạn mà làng tôi có nhiều người đỗ đạt, thành danh. Mỗi mùa thi đại học, ông lại bấm đốt ngón tay điểm danh những ai đỗ ai trượt. Ông nhẩm tính có bao nhiêu người từ làng đi “thoát ly”, làm người của Nhà nước, làm doanh nhân, nhà khoa học... Ông tự hào về truyền thống hiếu học của quê hương nhưng ông cũng tự hào về cái giếng làng đã góp phần làm nên “phong thủy”.
Nhưng bây giờ giếng làng tôi chẳng còn nữa. Khi nước máy về đến từng làng sâu, ngõ hẻm thì nhà nhà lấp giếng. Giếng làng trở nên thừa thãi, không cần thiết. Thành giếng phủ rêu xanh, mặt giếng đầy bèo ong. Thanh niên, trai gái đi cà phê, karaoke hẹn hò tán tỉnh. Giếng làng bơ vơ trong cơn trở mình của những ngày đô thị hóa. Người dân quê tôi thức thời, bắt kịp với những đổi thay của thời cuộc. Khoảng đất rộng mênh mông nơi giếng làng tọa lạc bao đời nay bỗng mọc lên một nhà văn hóa và sân vận động cho trẻ con vui chơi mỗi sớm mỗi chiều, các cụ cao niên tập dưỡng sinh, các bà, các cô sinh hoạt văn nghệ, hát hò. Ai cũng tỏ ra thích thú với những đổi thay như thế. Chỉ có ông tôi là tiếc ngẩn tiếc ngơ. Ông bảo nó là cái hồn của làng, sao người ta lại nỡ lấp đi. Chắc chắn làng sẽ có nhiều biến động. Nhưng lời nói của một ông già gần chín mươi tuổi bị cho là lẩm cẩm, lạc hậu, kéo lùi lịch sử. Thi thoảng ông chống gậy ra nhà văn hóa, đứng lặng hồi lâu. Đôi mắt mờ đục của ông như nhìn vào cõi xa xăm.
Lời dự đoán của ông trở thành hiện thực. Làng tôi lên phố. Vào đại học không phải là ước mơ duy nhất của người dân quê tôi như xưa nữa. Học xong phổ thông, thanh niên đi xuất khẩu lao động, làm công ty. Con đường học vấn gian nan sớm dừng lại để nhường bước cho con đường làm giàu. Ông tiếc nuối, xót xa. Ông ao ước giá như đừng lấp cái giếng làng thì làng mình còn nhiều cử nhân, thạc sĩ. Tôi bâng khuâng tự hỏi, có phải tại giếng làng không, hỡi giếng?
Tản văn của TRẦN THÚY LÀNH